Tranh chữ đá quý là tranh thư pháp mà nét chữ được ghép bằng hạt đá trên nền gỗ hoặc nền họa tiết, thường là một chữ Hán lớn như Phúc, Lộc, Thọ, Tâm, Nhẫn, An, hoặc một chữ, một câu ngắn viết theo lối thư pháp quốc ngữ. Loại tranh này được chọn cho phòng khách, phòng làm việc và làm quà cho người lớn tuổi, thầy cô.
Điểm riêng của tranh chữ là chỉ có một thứ để nhìn: nét chữ. Không có ngựa, thuyền hay núi che đi chỗ vụng; một nét sai là cả bức sai. Bài này giải thích những chữ hay được chọn, vì sao nét chữ bằng hạt đá khó hơn nét mực trên giấy, các lỗi thường gặp và cách kiểm, kể cả khi bạn không đọc được chữ Hán.
Những chữ hay được chọn và ý nghĩa thường hiểu
Phần lớn tranh chữ đá quý đang bán dùng một trong các chữ hoặc câu dưới đây. Ý nghĩa ghi theo cách hiểu phổ biến; một chữ Hán có thể có nhiều nghĩa tuỳ văn cảnh.
| Chữ, câu | Chữ Hán | Nghĩa thường hiểu | Hay treo ở |
|---|---|---|---|
| Phúc | 福 | Điều may, phúc phận tốt lành | Phòng khách, quà Tết |
| Lộc | 祿 | Bổng lộc, sự sung túc | Văn phòng, cửa hàng |
| Thọ | 壽 | Sống lâu | Quà mừng thọ ông bà |
| Tâm | 心 | Tấm lòng, sự tử tế | Phòng làm việc, phòng khám, văn phòng tư vấn |
| Nhẫn | 忍 | Kiên nhẫn, nhẫn nại | Phòng làm việc, nhà người kinh doanh |
| An | 安 | Bình an, yên ổn | Phòng khách, phòng ngủ |
| Đức | 德 | Đạo đức, phẩm hạnh | Phòng làm việc, quà thầy cô |
| Gia hòa vạn sự hưng | 家和萬事興 | Nhà hoà thuận thì mọi việc hưng thịnh | Phòng khách gia đình |
Chữ Nhẫn hay được giải thích theo cấu tạo: trên là chữ "đao" (dao), dưới là chữ "tâm" (lòng), ý con dao đặt trên trái tim mà vẫn giữ được bình tĩnh. Đây là cách giảng chiết tự phổ biến, dùng để nhớ chữ, không phải định nghĩa trong từ điển.
Nếu chọn câu dài hơn một chữ, hãy hỏi rõ nghĩa và xuất xứ. Không ít tranh in câu chữ Hán ghép tuỳ hứng, người mua không đọc được nên không biết. Một câu ngắn, rõ nghĩa an toàn hơn một câu dài không ai giải thích được.
Vì sao nét chữ bằng hạt đá khó hơn nét mực
Nét mực có hơi thở, hạt đá thì không. Thư pháp bằng bút lông có nét đậm nhạt, có chỗ mực khô để lộ vệt xơ (người chơi chữ gọi là phi bạch). Hạt đá phải mô phỏng những chỗ này bằng mật độ hạt dày thưa. Người làm kỹ rải thưa dần ở cuối nét để giữ cảm giác bút lướt; người làm vội đổ đầy hạt đều từ đầu đến cuối, nét chữ thành đường ống.
Đầu nét và móc là chỗ dễ mất. Nét chữ Hán có đầu nét (chỗ đặt bút), thân nét và đuôi nét (chỗ nhấc bút, móc). Đầu và đuôi nét thường nhỏ, nhọn; hạt đá to quá là đầu nét tù, móc thành cục tròn.
Tỉ lệ nét phải đúng theo bản viết gốc. Tranh chữ đá thường được làm từ một bản thư pháp viết tay hoặc phông chữ thư pháp, rồi chuyển lên nền. Nếu người chuyển không hiểu chữ, có thể làm nét to nét nhỏ sai tương quan, hoặc nối hai nét vốn tách rời.
Nền và chữ cần tương phản vừa đủ. Chữ đen trên nền vàng, chữ vàng trên nền đỏ, chữ trắng trên nền đen là ba phối phổ biến. Tương phản quá yếu thì đứng xa không đọc được chữ; quá gắt thì chữ như dán lên.
Không sửa được sau khi phủ keo. Khác với tranh phong cảnh có thể dặm thêm hạt, nét chữ sai sau khi đã phủ keo thường phải làm lại cả vùng. Vì vậy duyệt bản chữ trước khi rải hạt là bước quan trọng nhất.
Kiểm nét chữ Hán khi bạn không đọc được chữ Hán
Phần lớn người mua tranh chữ không đọc được chữ Hán. Bạn vẫn kiểm được khá nhiều bằng các bước sau:
- Hỏi người bán chữ đó là chữ gì, viết theo lối chữ nào (chân, hành, thảo) và lấy từ bản viết của ai hoặc phông chữ nào.
- Tra chữ đó trên từ điển chữ Hán, xem hình chữ ở lối chân (chữ ngay ngắn) để biết chữ có bao nhiêu bộ phận chính.
- Đặt ảnh tranh cạnh hình chữ đã tra: bố cục các bộ phận (trái phải, trên dưới) phải giống nhau; lối thảo có thể giản lược nhưng không đảo vị trí.
- Kiểm chữ không bị lật gương: lỗi này xảy ra khi người làm in ngược bản mẫu. Chữ lật gương nhìn rất "giống" nhưng sai hoàn toàn.
- Nhờ một người đọc được chữ Hán xem ảnh chụp rõ: thầy đồ, người dạy chữ Hán, người làm thư pháp. Nhiều người sẵn lòng xem giúp một chữ.
- Nếu tranh có lạc khoản (dòng chữ nhỏ ghi người viết, năm) và ấn triện đỏ, hỏi rõ nội dung; dòng chữ nhỏ ghép tuỳ tiện là chỗ hay sai nhất.
- Chỉ đồng ý cho xưởng rải hạt khi đã duyệt bản chữ cuối cùng trên nền thật.
Với tranh có sẵn, bước 3 và 4 làm được ngay trên điện thoại. Với tranh đặt làm, bước 7 là điều bạn nên ghi rõ khi trao đổi.
Thư pháp chữ quốc ngữ bằng đá: dấu thanh và độ dễ đọc
Thư pháp chữ Việt (chữ quốc ngữ viết bằng bút lông) ngày càng được chọn làm tranh, vì người xem đọc được và hiểu ngay. Các chữ hay gặp là Tâm, Nhẫn, An, Phúc, Hiếu, Mẹ, Cha, hoặc câu ngắn như "Gia đình là số một", "Tâm an vạn sự an". Trên tranh đá, chữ quốc ngữ có những khó khăn riêng.
Thứ nhất là dấu thanh. Thư pháp chữ Việt thường bay bổng, dấu sắc, dấu huyền, dấu hỏi được cách điệu thành nét bay. Khi chuyển sang hạt đá, dấu nhỏ dễ bị lẫn vào nét chữ hoặc đặt lệch, khiến "Tâm" đọc thành "Tam", "Nhẫn" mất dấu ngã thành "Nhân". Bạn nên đọc to từng chữ trên tranh, kiểm đủ dấu và đúng vị trí.
Thứ hai là độ dễ đọc. Một số lối thư pháp quốc ngữ uốn chữ rất mạnh, ghép chữ thành hình (chữ Tâm thành hình trái tim, chữ Nhẫn thành hình người ngồi). Trên giấy, nét mực mảnh giúp người xem lần ra chữ; trên đá, nét dày hơn nên chữ uốn quá dễ thành hình vẽ không đọc được. Nếu tặng người lớn tuổi, nên chọn lối chữ rõ.
Thứ ba là chính tả và nội dung câu. Câu dài trên tranh đá ít khi đẹp vì chữ nhỏ, nét mảnh khó làm; câu sai chính tả trên tranh treo lâu năm là điều đáng tiếc. Duyệt nội dung cẩn thận trước khi làm, đặc biệt khi câu được người bán gợi ý.
Bố cục tranh chữ: một chữ lớn, chữ kèm câu, chữ trên nền họa tiết
Tranh chữ đá quý có vài bố cục quen thuộc; mỗi kiểu hợp một loại không gian:
- Một chữ lớn giữa nền trơn: mạnh, rõ, hợp phòng làm việc, sảnh. Chữ phải thật đẹp vì không có gì phụ hoạ.
- Một chữ lớn kèm câu nhỏ bên cạnh: câu nhỏ thường giải nghĩa hoặc là câu thơ. Đẹp nếu câu nhỏ làm kỹ; nếu không, nên bỏ câu nhỏ.
- Chữ trên nền họa tiết: chữ Phúc trên nền hoa mẫu đơn, chữ Thọ trên nền tùng hạc. Rực rỡ, hợp quà Tết, quà mừng thọ; cần tương phản đủ để chữ không chìm vào họa tiết.
- Bộ chữ nhiều tấm: Phúc – Lộc – Thọ ba tấm, hoặc bốn chữ treo thành bộ. Phải đồng bộ nền, khung, kiểu chữ.
- Chữ trong khung tròn hoặc quạt: nhẹ nhàng, hợp tường nhỏ, góc phòng.
- Câu đối hai tấm dọc: thường treo hai bên một bức chính hoặc hai bên cửa. Với câu đối, nội dung phải đối chuẩn; nên lấy câu có xuất xứ rõ, không tự ghép.
Tranh chữ thường treo xuôi. Tục dán chữ Phúc ngược (lối chơi chữ "phúc đảo" đọc gần "phúc đáo") dùng cho giấy dán cửa ngày Tết; tranh khung treo tường không cần làm như vậy.
Màu nền, màu chữ và khung: ba phối hay gặp
Phối thứ nhất là chữ đen trên nền vàng nhạt hoặc nền giấy dó giả. Đây là phối gần với thư pháp viết tay nhất, trang nhã, hợp phòng làm việc và phòng khách nội thất gỗ. Chữ đen bằng hạt đá thường dùng đá màu đen hoặc xám rất đậm; điều cần nhìn là nét chữ có chỗ đậm chỗ nhạt như vệt mực hay chỉ là một màu đen đặc.
Phối thứ hai là chữ vàng trên nền đỏ hoặc nền nâu đỏ. Rực rỡ, hợp quà Tết, quà mừng thọ, cửa hàng. Phần chữ vàng nhiều khi được làm bằng nhũ hoặc hạt ánh kim chứ không phải đá; không có gì sai, nhưng nhũ có thể xỉn sau vài năm, nên hỏi rõ để biết. Nền đỏ quá chói dễ làm mỏi mắt ở phòng nhỏ.
Phối thứ ba là chữ trắng hoặc chữ vàng trên nền đen. Hiện đại, nổi bật, hợp văn phòng tối giản. Nền đen làm lộ rõ bụi, nên loại này hợp với tranh có kính.
Về khung, tranh chữ hợp khung gỗ trơn bản vừa, màu trầm, không chạm trổ nhiều. Khung chạm rồng phượng cầu kỳ dễ tranh chỗ với nét chữ, vốn là thứ duy nhất trên tranh mà người xem cần nhìn. Lề giữa chữ và khung nên đủ rộng; chữ sát mép khung trông như bị cắt.
Treo tranh chữ ở đâu, chọn chữ cho ai
Tranh chữ hợp nhất với những nơi người ta ngồi lâu và cần một lời nhắc: phòng làm việc, bàn tiếp khách, phòng học của con. Chữ Nhẫn, chữ Tâm thường treo ở phòng làm việc, trên tường đối diện hoặc sau lưng ghế. Chữ An, chữ Phúc, câu "gia hòa vạn sự hưng" hợp với phòng khách gia đình. Chữ Thọ hợp làm quà mừng thọ, treo phòng ông bà.
Nhiều người treo tranh chữ ở gian thờ hoặc gần ban thờ. Việc này tuỳ nếp mỗi nhà; nếu treo gần ban thờ, nên chọn chữ trang nghiêm (Phúc, Đức, Hiếu), màu trầm, tránh các mẫu chữ cách điệu vui mắt.
Khi chọn chữ làm quà, nên chọn theo người nhận hơn là theo chữ "may mắn" nhất. Thầy cô hợp chữ Đức, Tâm; người làm kinh doanh hay được tặng Nhẫn, Lộc; ông bà hợp Thọ, Phúc; vợ chồng mới cưới hợp câu gia hoà. Một chữ đúng người sẽ được treo ở chỗ người nhận nhìn thấy mỗi ngày.
Về khổ, tranh một chữ thường làm vuông hoặc dọc; chữ lớn nên chiếm khoảng hai phần ba khung, để lại lề đủ thở. Tranh chữ treo hơi cao hơn tầm mắt một chút trông trang trọng hơn tranh phong cảnh. Nếu đã chọn được chữ, bạn có thể xem mẫu có ghi rõ chất liệu, kích thước tại Vật Phẩm Phong Thủy để so kiểu chữ và nền.
Câu hỏi thường gặp
Tranh chữ Nhẫn có phải chỉ dành cho người nóng tính không?
Không. Chữ Nhẫn được hiểu rộng là sự kiên nhẫn, bền bỉ, chịu đựng để làm việc lâu dài, nên người làm kinh doanh, người làm nghề phải tiếp xúc nhiều thường chọn. Nhiều người treo như một lời tự nhắc, không phải vì mình nóng tính.
Tranh chữ Hán và tranh chữ Việt, nên chọn loại nào?
Chữ Hán có vẻ cổ kính, hợp với nội thất truyền thống và người quen chơi chữ, nhưng cần kiểm nét kỹ. Chữ Việt dễ đọc, gần gũi với người trẻ và trẻ nhỏ. Nếu người treo không đọc được chữ Hán và muốn hiểu ngay, chữ Việt phù hợp hơn.
Làm sao biết chữ Hán trên tranh có bị viết sai không?
Tra chữ đó trong từ điển chữ Hán và so bố cục các bộ phận, kiểm chữ có bị lật gương không, rồi nhờ người đọc được chữ Hán xem ảnh rõ nét. Với tranh đặt làm, chỉ cho xưởng làm khi đã duyệt bản chữ cuối cùng.
Chữ trên tranh bị bong vài hạt ở đuôi nét thì sao?
Đuôi nét và móc là chỗ hạt nhỏ, ít keo nên dễ bong khi va quệt. Giữ lại hạt rơi và mang tranh về xưởng để gắn lại. Không nên tự dùng keo dán thông thường vì keo có thể chảy loang, ố vàng trên nền.
Có nên đặt tranh chữ đá quý ghi tên người hoặc tên công ty không?
Được, nhiều xưởng nhận làm. Tên riêng nên ngắn, viết lối chữ rõ để hạt đá thể hiện được. Hãy duyệt kỹ chính tả, dấu thanh và khoảng cách giữa các chữ, vì sai sót trên tranh treo ở sảnh công ty rất dễ bị nhận ra.
Tranh chữ có cần treo theo hướng nào không?
Không có quy định chung về hướng cho tranh chữ. Điều nên làm là treo xuôi, ở chỗ dễ nhìn, không bị che, và tránh nơi ẩm thấp hay vị trí thiếu trang trọng như cạnh nhà vệ sinh, vì người treo chữ thường muốn chữ được tôn trọng.