Tranh đá quý sơn thủy là tranh ghép hạt đá vẽ núi non, sông suối, thác nước và mây, thường được treo ở phòng khách hoặc sau lưng ghế làm việc theo quan niệm "tựa núi". Đây là đề tài cổ nhất trong hội hoạ Á Đông và cũng là đề tài hợp với chất liệu đá nhất: đá vẽ núi, hạt mịn vẽ sương, hạt sáng vẽ nước.
Người chọn tranh sơn thủy thường hỏi hai chuyện: treo ở đâu thì đúng quan niệm, và thác nước trong tranh nên chảy hướng nào. Bài trình bày các cách hiểu đó như tập quán, rồi dành phần lớn cho chuyện thực tế hơn: bố cục nào hợp phòng nào, làm sao nhìn ra bức có chiều sâu và bức chỉ là núi xếp chồng, và kiểm gì khi nhận.
Sơn thủy là gì và vì sao hợp với chất liệu đá
Sơn thủy nghĩa là núi và nước. Trong hội hoạ Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, tranh sơn thủy là dòng tranh phong cảnh lấy núi làm khung, nước làm mạch, mây sương làm khoảng thở. Câu "sơn thủy hữu tình" người Việt hay dùng để khen cảnh đẹp có núi có sông hài hoà. Trên tranh đá bán phổ biến hiện nay, sơn thủy thường gồm dãy núi xa mờ, núi gần có cây tùng, một dòng thác hoặc suối, mặt hồ, đôi khi có cây cầu, mái nhà nhỏ hay con thuyền.
Chất liệu đá hợp với đề tài này vì ba lẽ. Thứ nhất, núi đá vẽ bằng hạt đá cho cảm giác cứng, chắc, có vân thật. Thứ hai, sương mù và mây có thể làm bằng hạt trắng rất mịn, rải mỏng để lộ một phần nền, tạo độ mờ mà tranh in khó đạt. Thứ ba, thác nước và mặt hồ dùng hạt sáng, hạt trong, ánh lên khi có đèn rọi.
Tuy vậy, sơn thủy cũng là đề tài dễ làm thành nhàm: ba ngọn núi xếp chồng, một vệt thác trắng ở giữa, mặt hồ xanh phẳng. Bức đẹp và bức nhàm khác nhau ở phối cảnh xa gần và nhịp của khoảng trống, sẽ nói kỹ ở phần dưới.
Quan niệm "tựa núi, nhìn nước" khi treo tranh
Tranh núi sau lưng chỗ ngồi. Theo quan niệm phong thủy phổ biến, người ngồi làm việc nên có "chỗ dựa" phía sau, tức tường đặc hoặc hình núi; vì vậy tranh sơn thủy có núi lớn thường được treo sau lưng ghế giám đốc. Về thực tế, ngồi quay lưng vào tường đặc cũng dễ chịu hơn ngồi quay lưng ra lối đi.
Nước ở phía trước. Cũng theo quan niệm đó, hình ảnh nước (hồ, suối) nên ở phía trước tầm nhìn. Có người treo tranh có nhiều nước ở tường đối diện bàn làm việc, tranh nhiều núi ở sau lưng.
Thác nước chảy vào trong. Với tranh có thác hoặc suối, cách hiểu quen thuộc là dòng nước nên chảy về phía trong nhà, ý "nước tụ", không chảy ra cửa. Khi chọn tranh, xem dòng thác đổ về phía trái hay phải của khung để đặt tranh cho hợp.
Núi không quá nhọn, quá dữ. Một số người không thích tranh núi đá lởm chởm, đỉnh nhọn như răng cưa ở phòng khách vì gây cảm giác căng. Đây là lựa chọn thẩm mỹ; núi tròn, thoải, có cây xanh thường dễ sống cùng hơn.
Mỗi trường phái nói một kiểu. Các cách hiểu trên không thống nhất giữa các trường phái và người hành nghề. Bạn có thể tham khảo, nhưng bức tranh hợp với căn phòng và với người ở mới là điều quyết định.
Các kiểu bố cục sơn thủy và phòng hợp với từng kiểu
Tranh sơn thủy trên thị trường có thể chia thành vài kiểu bố cục chính. Cùng là núi và nước, nhưng không khí rất khác nhau:
| Kiểu bố cục | Đặc điểm | Cảm giác | Hợp với |
|---|---|---|---|
| Núi lớn trung tâm | Một khối núi chiếm giữa tranh, thác đổ từ sườn | Vững, trang trọng | Sau lưng bàn làm việc, sảnh |
| Núi xa – hồ gần | Dãy núi mờ phía xa, mặt hồ rộng phía trước | Thoáng, yên | Phòng khách, phòng ngủ |
| Thác đổ nhiều tầng | Dòng thác chia nhiều bậc, đá và cây hai bên | Có chuyển động, sinh khí | Phòng khách rộng, nhà hàng |
| Sơn thủy có người, nhà | Có cầu, mái đình, thuyền câu, người đi đường rất nhỏ | Gần gũi, có chuyện để kể | Phòng trà, phòng đọc sách |
| Sơn thủy kiểu thủy mặc | Màu chủ đạo đen, xám, trắng, nhiều khoảng trống | Thanh, hiện đại | Nhà tối giản, văn phòng sáng màu |
| Sơn thủy mùa thu | Lá đỏ vàng trên sườn núi | Ấm, rực | Phòng khách nội thất gỗ |
Kiểu thủy mặc (chỉ đen, xám, trắng) đang được nhiều người trẻ chọn vì hợp với nội thất hiện đại. Với tranh đá, kiểu này đòi hỏi người làm chuyển độ xám rất mịn; làm thô sẽ lộ ngay vì không có màu nào che.
Kiểu có cầu, nhà, thuyền nhỏ cho tranh chiều sâu và câu chuyện, nhưng các chi tiết nhỏ là nơi tranh đá dễ vụng. Hãy nhìn kỹ mái nhà, lan can cầu: thẳng nét, đúng tỉ lệ so với núi là tay nghề tốt.
Xa gần bằng cỡ hạt: cách nhìn ra một bức sơn thủy có chiều sâu
Hội hoạ sơn thủy cổ điển có cách diễn xa gần riêng: núi gần đậm, rõ nét, núi xa nhạt, mờ, giữa các lớp núi là sương mây. Trong tranh đá, người thợ chuyển nguyên tắc này sang cỡ và độ dày của hạt. Núi gần dùng hạt to hơn, rải dày, màu đậm, có khi gắn cả vài mảnh đá nhỏ để nổi khối. Núi xa dùng hạt mịn, rải mỏng, màu nhạt lẫn vào nền trời.
Khi đứng trước một bức sơn thủy, bạn thử đếm số lớp núi từ gần ra xa. Bức có chiều sâu thường có ít nhất ba lớp tách bạch, mỗi lớp nhạt hơn lớp trước. Bức làm vội có các ngọn núi cùng một màu, cùng một cỡ hạt, chỉ khác vị trí trên dưới, nhìn như một bức tường núi dựng đứng.
Sương và mây là phép thử thứ hai. Sương đẹp là dải hạt trắng mịn rải mỏng dần ra hai mép, chỗ đậm chỗ thưa, nhìn qua được bóng núi phía sau. Sương làm bằng một vệt sơn trắng hoặc một dải hạt dày đặc đều nhau thì giống một dải bông gòn dán ngang tranh.
Phép thử thứ ba là dòng nước. Thác đổ có vệt sáng ở giữa, mép tối hơn, chân thác có bọt trắng tỏa ra mặt hồ; mặt hồ có phản chiếu mờ của núi. Thác chỉ là một dải trắng thẳng từ trên xuống, mặt hồ xanh phẳng không có phản chiếu, là dấu hiệu tranh được làm theo khuôn có sẵn.
Màu núi, màu nước: bảng màu đá thường dùng và cách phối với nội thất
Tranh sơn thủy bằng đá thường xoay quanh bốn nhóm màu. Nhóm xanh lục cho cây và sườn núi, hay dùng hạt đá có sắc xanh rêu, xanh ngọc; nhóm nâu đất cho vách đá và thân cây; nhóm trắng xám cho sương, mây, bọt thác; và nhóm xanh lam cho mặt nước, nền trời. Nhiều xưởng thêm một ít nhũ vàng hoặc hạt ánh kim ở viền mây, đỉnh núi lúc hoàng hôn. Bạn nên hỏi phần nào là hạt đá tự nhiên, phần nào là nhũ hay hạt nhuộm, vì độ bền màu mỗi loại khác nhau.
Với nội thất gỗ tối, sàn nâu, tranh có tông nâu xanh trầm sẽ hoà vào không gian, còn tranh nền trắng sáng sẽ thành điểm sáng nổi bật. Với nhà sơn trắng, nội thất sáng màu, tranh thủy mặc đen xám hoặc tranh núi xanh nhạt trông nhẹ nhàng; tranh nhiều nhũ vàng dễ bị lạc giữa nền tường trắng, trông như đồ trang trí sự kiện.
Một mẹo phối màu đơn giản: tìm một màu trong tranh lặp lại ở một món đồ trong phòng, như gối tựa xanh rêu, bình gốm nâu, rèm xám. Chỉ cần một điểm nối như vậy, bức tranh như thuộc về căn phòng thay vì được treo tạm lên.
Chọn tranh sơn thủy theo từng phòng
Gợi ý dưới đây dựa trên thẩm mỹ và cách dùng phòng; các quan niệm phong thủy ở phần trên bạn có thể kết hợp tuỳ ý:
- Phòng khách: kiểu núi xa – hồ gần hoặc thác nhiều tầng, khổ ngang trên sofa. Nếu phòng hẹp, chọn tranh nền sáng, nhiều khoảng trời để phòng không bị nặng.
- Phòng làm việc riêng: kiểu núi lớn trung tâm sau lưng ghế; chọn màu trầm, không quá rực để khách ngồi đối diện không bị chói.
- Phòng họp: tranh dài, bố cục ngang, núi thoải, tránh thác đổ ầm ầm ngay sau ghế chủ toạ vì gây phân tán khi nhìn vào người nói.
- Phòng ngủ: kiểu thủy mặc hoặc hồ yên, màu dịu; tránh thác đổ mạnh nếu bạn thấy hình ảnh động làm khó ngủ.
- Phòng thờ, gian thờ: nhiều gia đình không treo tranh phong cảnh trong gian thờ, chỉ treo ở tường phòng khách liền kề. Theo nếp nhà bạn.
- Nhà hàng, quán trà: kiểu có cầu, mái nhà, thuyền câu tạo cảm giác thư thái; nên có kính nếu gần khu nấu nướng.
Chiều thác nước nên xác định trước khi chọn mẫu, giống như chiều ngựa trong tranh mã đáo: đứng ở cửa phòng, xem bức tường định treo, rồi chọn tranh có dòng nước đổ về phía trong.
Kiểm tranh sơn thủy khi nhận và giữ cho tranh sạch
Tranh sơn thủy có nhiều vùng hạt mịn (sương, núi xa), là chỗ dễ bám bụi và dễ bong nhất. Khi nhận và trong quá trình dùng:
- Đứng xa nhìn tổng thể: đếm lớp núi, xem sương mỏng dần, thác có sáng tối, mặt hồ có phản chiếu.
- Lại gần soi vùng sương và núi xa: hạt mịn bám đều, không có mảng trơ nền do keo không ăn.
- Soi các chi tiết nhỏ nếu có (cầu, mái nhà, thuyền): nét thẳng, tỉ lệ hợp lý.
- Lau thử một góc bằng khăn ẩm sạch: không ra màu.
- Kiểm khung, kính, móc treo như mọi tranh đá; hỏi trọng lượng để chọn móc.
- Khi dùng: phủi bụi bằng chổi lông mềm theo một chiều từ trên xuống, không chà ngang qua vùng sương.
- Không xịt nước lau kính, cồn hay dầu bóng thẳng lên mặt đá; nếu có kính, xịt nước lau kính lên khăn rồi lau kính.
Khi đã chọn được bố cục và chiều nước hợp với bức tường, bạn có thể xem mẫu có ghi rõ chất liệu, kích thước tại Vật Phẩm Phong Thủy để so sánh trước khi quyết định.
Câu hỏi thường gặp
Tranh sơn thủy có thác nước có tốt hơn tranh chỉ có núi không?
Không có chuyện tốt hơn. Thác nước tạo cảm giác chuyển động, được nhiều người thích vì ý "nước là tài" theo quan niệm dân gian. Tranh chỉ có núi và mây thì tĩnh, vững. Chọn theo căn phòng: chỗ cần sinh động dùng thác, chỗ cần yên dùng núi và hồ.
Treo tranh sơn thủy sau lưng ghế sofa có được không?
Được, đó là vị trí phổ biến nhất. Người ngồi sofa có tranh núi phía sau, người đối diện nhìn thấy trọn bức tranh. Chỉ cần mép dưới tranh cách lưng ghế một khoảng để không bị đầu người ngồi chạm vào và đủ chỗ phủi bụi.
Tranh sơn thủy kiểu Trung Hoa có hợp với nhà Việt không?
Sơn thủy là dòng tranh chung của nhiều nước Á Đông, người Việt đã chơi từ lâu. Nếu muốn cảnh gần với Việt Nam, bạn có thể chọn hoặc đặt mẫu có núi đá vôi kiểu Ninh Bình, Hạ Long, ruộng bậc thang thay vì núi kiểu Quế Lâm.
Vùng sương trắng trong tranh bị ngả vàng thì do đâu?
Thường do lớp keo hoặc lớp phủ bị ngả màu theo thời gian, nhất là khi tranh gặp nắng, khói bếp hoặc khói nhang. Hạt đá trắng tự nhiên ít đổi màu. Nên treo tranh tránh nắng và khói, và hỏi xưởng làm tranh nếu cần xử lý lại lớp phủ.
Có nên chọn tranh sơn thủy có chữ đề thơ không?
Tranh có đề thơ trông có chất văn hơn, nhưng chữ ghép bằng hạt đá khó làm nét mảnh và dễ sai nét chữ Hán. Nếu thích, nên chọn câu ngắn, nhờ người đọc được chữ kiểm trước. Không chắc thì chọn tranh không chữ cho an toàn.
Tranh sơn thủy khổ dọc dùng ở đâu?
Khổ dọc hợp với tường hẹp cạnh cửa sổ, góc phòng khách, sảnh nhỏ hoặc tường cầu thang. Bố cục dọc thường nhấn vào thác nước cao hoặc ngọn núi vươn lên, tạo cảm giác trần nhà cao hơn. Chọn khổ dọc khi chiều cao tường nhiều hơn chiều ngang.