Người sinh tháng Một và tháng Hai dương lịch cần tra hai thứ theo hai mốc khác nhau: đá tháng sinh lấy đúng tháng dương lịch trên giấy khai sinh (tháng Một là garnet, tháng Hai là thạch anh tím), còn mệnh ngũ hành lấy theo năm âm lịch, mà năm âm lịch đổi ở Tết Nguyên Đán hoặc, theo một số trường phái, ở tiết Lập xuân quanh ngày 4 tháng Hai.
Vì Tết rơi vào khoảng cuối tháng Một đến giữa tháng Hai, người sinh trong quãng này rất dễ lấy nhầm năm dương lịch làm năm tuổi và tra ra một mệnh khác hẳn. Nhầm theo chiều ngược lại cũng hay gặp: có người lấy tháng âm lịch để tra bảng đá tháng sinh phương Tây. Bài này chỉ ra từng chỗ dễ trượt, kèm ví dụ giả định với ngày Tết thật của năm đó, để bạn tự kiểm trước khi chọn viên đá cho mình hoặc làm quà cho người thân.
Vì sao người sinh đầu năm dương lịch hay chọn nhầm
Ở Việt Nam, giấy khai sinh, căn cước, hồ sơ trường học đều ghi ngày dương lịch. Nhưng khi nói chuyện tuổi, mệnh, nhiều gia đình lại dùng năm âm lịch, và câu “em sinh năm 1996” trong đầu người nghe thường tự động thành “tuổi Tý”. Với người sinh từ tháng Ba trở đi, hai năm trùng nhau nên không có vấn đề gì. Với người sinh tháng Một và nửa đầu tháng Hai, năm dương lịch và năm âm lịch có thể lệch nhau một năm.
Lệch một năm nghĩa là lệch con giáp, và rất thường lệch cả mệnh nạp âm, vì hai năm liền nhau chỉ chung mệnh khi chúng nằm trong cùng một cặp. Năm 1995 và 1996 chẳng hạn, một năm thuộc Hoả, năm sau thuộc Thuỷ. Một người tra nhầm có thể chọn đá đỏ trong khi theo đúng năm âm lịch, bảng màu lại hướng về đen và xanh dương.
Chiều ngược lại cũng xảy ra với hệ đá tháng sinh. Có người nhớ mình sinh “tháng Chạp” rồi tra bảng đá tháng Mười Hai, trong khi ngày dương lịch là tháng Một. Bảng đá tháng sinh được lập theo lịch dương của phương Tây nên tháng Chạp âm lịch không có chỗ trong đó. Hai lỗi này độc lập với nhau, nên một người có thể dính cả hai cùng lúc.
Đá tháng sinh: lấy đúng tháng dương lịch
Tháng Một là garnet. Garnet, còn gọi ngọc hồng lựu, là một nhóm khoáng vật chứ không phải một loại đơn lẻ. Màu quen thuộc nhất là đỏ rượu, đỏ nâu của almandine và pyrope, nhưng nhóm này còn có màu cam, xanh lục. Độ cứng khoảng 6,5 đến 7,5 trên thang Mohs, đủ bền cho mặt dây và vòng hạt dùng thường ngày.
Tháng Hai là thạch anh tím. Thạch anh tím là thạch anh có vết sắt, màu hình thành do bức xạ tự nhiên trong lòng đất. Độ cứng 7, dễ tìm ở nhiều kích cỡ, từ hạt vòng tới hốc lớn. Điểm cần nhớ là màu tím có thể nhạt dần nếu phơi nắng gắt lâu ngày.
Không có tháng “giáp ranh”. Hệ đá tháng sinh không chia theo khoảng ngày như cung hoàng đạo. Sinh ngày 31 tháng Một vẫn là tháng Một, sinh ngày 1 tháng Hai là tháng Hai. Nếu nơi bán ghi “đá cho người sinh từ 20/1 đến 18/2”, đó là bảng đá theo cung Bảo Bình, một hệ khác.
Ngày âm lịch không dùng ở đây. Nếu gia đình chỉ nhớ ngày âm, bạn cần đổi sang ngày dương trước. Người sinh mùng 10 tháng Chạp có thể rơi vào tháng Một dương lịch của năm sau, tức đá tháng sinh là garnet chứ không phải đá tháng Mười Hai.
Mệnh ngũ hành: năm âm lịch đổi ở Tết, không phải ở ngày 1 tháng 1
Mệnh nạp âm được gắn với từng năm can chi trong vòng sáu mươi năm. Theo cách tra phổ biến nhất trong dân gian Việt Nam, năm can chi bắt đầu từ mùng Một Tết Nguyên Đán. Ngày Tết dương lịch xê dịch từ khoảng 21 tháng Một đến khoảng 20 tháng Hai, tuỳ năm, nên muốn biết mình thuộc năm nào bạn phải biết ngày Tết của chính năm sinh.
Ví dụ giả định thứ nhất: một người sinh ngày 25 tháng 1 năm 1990. Tết năm Canh Ngọ 1990 rơi vào ngày 27 tháng 1, nên người này sinh trước Tết hai ngày, vẫn thuộc năm Kỷ Tỵ 1989, mệnh Đại Lâm Mộc, chứ không phải Canh Ngọ, mệnh Lộ Bàng Thổ. Đá tháng sinh của người này là garnet vì sinh tháng Một dương lịch.
Ví dụ giả định thứ hai: một người sinh ngày 10 tháng 2 năm 1996. Tết năm Bính Tý 1996 rơi vào ngày 19 tháng 2, nên theo mốc Tết người này vẫn thuộc năm Ất Hợi 1995, mệnh Sơn Đầu Hoả. Đá tháng sinh là thạch anh tím. Trường hợp này còn phức tạp hơn ở mục sau, vì mốc Lập xuân cho một kết quả khác.
Cũng nên biết rằng có năm Tết ở Việt Nam và Trung Quốc lệch nhau, nổi tiếng nhất là năm 1985, do lịch âm Việt Nam tính theo múi giờ nước mình. Khi tra ngày Tết, hãy dùng lịch âm dương của Việt Nam thay vì bảng dịch từ nguồn nước ngoài.
Mốc Tết hay mốc Lập xuân: hai cách chia năm
Ngoài mốc Tết, một số trường phái, nhất là những người dùng tứ trụ và một số sách phong thủy, lấy tiết Lập xuân làm điểm bắt đầu năm can chi. Lập xuân là một trong hai mươi bốn tiết khí, theo vị trí Mặt Trời nên luôn rơi vào khoảng ngày 4 hoặc 5 tháng Hai dương lịch.
| Điểm so sánh | Mốc Tết Nguyên Đán | Mốc Lập xuân |
|---|---|---|
| Ngày dương lịch | Xê dịch, khoảng 21/1 đến 20/2 | Gần như cố định, khoảng 4 hoặc 5/2 |
| Căn cứ | Lịch âm theo tuần trăng | Tiết khí theo vị trí Mặt Trời |
| Ai thường dùng | Đa số gia đình, lịch treo tường, cách tính tuổi thông thường | Một số trường phái tứ trụ, một số sách phong thủy |
| Ví dụ sinh 10/2/1996 | Năm Ất Hợi, mệnh Hoả | Năm Bính Tý, mệnh Giản Hạ Thuỷ |
| Ví dụ sinh 25/1/1990 | Năm Kỷ Tỵ, mệnh Mộc | Năm Kỷ Tỵ, mệnh Mộc (trùng) |
Hai mốc chỉ cho kết quả khác nhau với người sinh trong quãng giữa Lập xuân và Tết, hoặc giữa Tết và Lập xuân nếu Tết rơi sớm. Ngoài quãng ấy, hai cách chia năm trùng nhau.
Không có cơ quan nào phân xử cách nào “đúng”. Trong chuyện chọn đá, bạn chỉ cần biết mình đang theo cách nào và giữ nhất quán, nhất là khi so với bảng tra của người bán.
Các bước tự kiểm trước khi chọn đá
Để không phải hỏi đi hỏi lại, bạn có thể làm theo trình tự sau, chỉ cần giấy khai sinh và một cuốn lịch âm dương có ghi ngày Tết các năm:
- Lấy ngày tháng năm sinh dương lịch trên giấy tờ. Tháng này là đầu vào cho đá tháng sinh: tháng Một là garnet, tháng Hai là thạch anh tím.
- Tra ngày Tết Nguyên Đán của năm dương lịch đó trong lịch Việt Nam.
- Nếu ngày sinh trước ngày Tết, năm âm lịch của bạn là năm trước; nếu từ ngày Tết trở đi, là năm hiện tại.
- Xem thêm ngày Lập xuân năm đó. Nếu ngày sinh nằm giữa Lập xuân và Tết, ghi lại rằng hai mốc cho hai năm khác nhau.
- Tra mệnh nạp âm của năm âm lịch đã xác định, rồi tra nhóm màu đá theo mệnh.
- Đặt kết quả đá tháng sinh và màu mệnh cạnh nhau. Nếu chúng vênh, chọn một hệ làm chính hoặc tách món đeo với món để bàn.
Nếu làm quà, hãy ghi vào thiệp viên đá được chọn theo tháng sinh hay theo mệnh, kèm năm âm lịch bạn đã tính. Người nhận có thể có cách tính khác, và một dòng giải thích rõ ràng giúp tránh những câu hỏi khó xử.
Những nhầm lẫn hay gặp khi mua đá cho người sinh đầu năm
Ở quầy bán và trong tin nhắn hỏi mua, các tình huống dưới đây lặp lại khá thường. Biết trước giúp bạn hỏi đúng câu và tránh phải đổi hàng:
- Nói năm tuổi thay vì ngày sinh. Người mua nói “cháu tuổi Tý” rồi người bán tra theo năm dương lịch mà không hỏi ngày. Cách chắc nhất là đưa ngày tháng năm sinh dương lịch đầy đủ để hai bên cùng tính.
- Lấy đá tháng Chạp cho người sinh tháng Một. Tháng Chạp âm lịch phần lớn rơi vào tháng Một, đôi khi sang đầu tháng Hai dương lịch. Đá tháng sinh phải theo tháng dương, nên người sinh tháng Chạp thường có đá tháng sinh là garnet hoặc thạch anh tím.
- Trộn bảng cung hoàng đạo với bảng đá tháng sinh. Người sinh cuối tháng Một thuộc cung Bảo Bình, có nơi gợi ý đá khác garnet. Hai bảng đều tồn tại, nhưng nên biết mình đang xem bảng nào.
- Mua một viên cho cả cặp sinh đôi khác ngày. Hai bé sinh đôi cách nhau qua nửa đêm giao thừa có thể khác năm âm lịch. Trường hợp hiếm nhưng có thật, nên kiểm từng ngày sinh.
- Tin bảng tra tự động không ghi mốc năm. Một số công cụ trên mạng chỉ hỏi năm sinh rồi trả mệnh. Với người sinh tháng Một, tháng Hai, kết quả đó có thể sai một năm; hãy kiểm lại với ngày Tết.
Khi hai cách tính cho hai mệnh khác nhau
Trường hợp sinh giữa Lập xuân và Tết là nơi bối rối nhiều nhất, vì người theo mốc Tết và người theo mốc Lập xuân sẽ đưa cho bạn hai bảng màu khác nhau. Một cách xử lý gọn là theo nếp nhà: nếu cha mẹ, ông bà vẫn tính tuổi bạn theo Tết, hãy dùng mốc Tết cho mọi việc liên quan tới mệnh, kể cả chọn đá.
Cách thứ hai là để hệ đá tháng sinh làm chính. Hệ này không phụ thuộc mốc năm, nên người sinh ngày 10 tháng 2 năm 1996 dù theo mốc nào thì đá tháng sinh vẫn là thạch anh tím. Với nhiều người, đó là lối ra nhẹ nhàng nhất khỏi cuộc tranh luận về năm.
Cách thứ ba là chọn một màu trung tính mà cả hai bảng không loại trừ, như đá trắng hoặc đá trong, rồi để ý nghĩa cá nhân của viên đá đến từ câu chuyện bạn gắn cho nó. Dù chọn cách nào, đây vẫn là lựa chọn văn hoá; không có hậu quả nào xảy ra chỉ vì bạn theo mốc này mà không theo mốc kia. Khi đã chốt, bạn có thể xem mẫu có ghi rõ chất liệu, kích thước tại Vật Phẩm Phong Thủy để chọn dạng đeo hay để bàn.
Câu hỏi thường gặp
Sinh ngày 1 tháng 1 dương lịch thì đá hộ mệnh là gì?
Đá tháng sinh là garnet vì đó là tháng Một dương lịch. Còn mệnh thì gần như chắc chắn thuộc năm âm lịch trước, vì Tết luôn rơi sau ngày 1 tháng 1. Bạn tra mệnh nạp âm của năm dương lịch liền trước để biết nhóm màu theo ngũ hành.
Giấy khai sinh ghi ngày âm thì đổi thế nào?
Bạn dùng lịch vạn niên hoặc bảng đổi lịch âm dương của Việt Nam để tìm ngày dương tương ứng, chú ý những năm có tháng nhuận. Sau khi có ngày dương, mới tra đá tháng sinh; còn năm âm lịch thì đã có sẵn trên giấy, dùng trực tiếp để tra mệnh.
Garnet có phải màu nào cũng được coi là đá tháng Một không?
Theo danh sách đá tháng sinh, tháng Một ghi garnet nói chung, không giới hạn màu. Trên thị trường, garnet đỏ phổ biến nhất, garnet cam và xanh lục hiếm hơn. Nếu bạn muốn đối chiếu cả với ngũ hành, màu của viên garnet cụ thể sẽ quyết định nó thuộc nhóm màu nào.
Mốc Lập xuân năm nào cũng là ngày 4 tháng 2 phải không?
Lập xuân phụ thuộc vị trí Mặt Trời nên rơi vào ngày 3, 4 hoặc 5 tháng Hai tuỳ năm, phổ biến nhất là ngày 4. Nếu ngày sinh của bạn sát mốc này, hãy tra lịch tiết khí của đúng năm sinh thay vì mặc định một ngày cố định.
Người sinh ở nước ngoài thì tính Tết theo giờ nào?
Ngày Tết trong lịch âm Việt Nam tính theo giờ Việt Nam. Người sinh ở nơi lệch múi giờ nhiều, sát nửa đêm giao thừa, có thể có ngày sinh quy đổi khác đi. Trường hợp hiếm này nên đổi giờ sinh về giờ Việt Nam trước khi so với ngày Tết.
Đã mua đá theo năm dương lịch rồi giờ mới biết nhầm, có phải đổi không?
Không bắt buộc. Viên đá đã mua vẫn là một vật đẹp và vẫn có thể đeo vì bạn thích nó. Nếu muốn có thêm một viên đúng mệnh theo năm âm lịch, bạn có thể đặt nó trên bàn làm việc, còn viên cũ giữ làm đồ đeo hoặc quà kỷ niệm.