Theo tập quán phổ biến ở Việt Nam, khi chọn vật phẩm, kim loại như đồng, bạc được xếp vào hành Kim; gỗ thuộc Mộc; gốm, sứ, đá, đất nung thuộc Thổ; pha lê, thuỷ tinh hay được xếp vào Thuỷ (có nơi xếp vào Kim); đồ có màu đỏ rực, đồ liên quan lửa như nến, đèn được tính vào Hoả. Với đá quý, người ta thường xét màu của đá trước, rồi mới tới chất liệu.
Cách xếp này không phải một bộ quy tắc thống nhất; mỗi sách, mỗi người bán có thể xếp hơi khác. Bài này trình bày cách xếp hay gặp nhất, chỗ nào hay có ý kiến khác nhau, và quan trọng hơn: mỗi chất liệu có ưu nhược điểm gì khi dùng thật, kiểm thế nào trước khi mua.
Bảng chất liệu, hành theo tập quán và chỗ hay lẫn
Bảng tổng hợp dưới đây dùng làm điểm xuất phát. Cột "chỗ hay lẫn" ghi những trường hợp hai nguồn xếp khác nhau:
| Chất liệu | Hành theo tập quán | Chỗ hay lẫn | Điều cần kiểm khi mua |
|---|---|---|---|
| Đồng thau, đồng đỏ, đồng vàng | Kim | Đồng màu đỏ có người tính thêm Hoả | Đồng đặc hay hợp kim mạ |
| Bạc, kim loại xi bạc | Kim | Ít tranh cãi | Bạc thật hay xi; lớp xi dày mỏng |
| Gỗ (tượng, hạt, đế, khay) | Mộc | Gỗ sơn đỏ, sơn đen thì xét thêm màu | Nứt, mối, lớp phủ, mùi tẩm |
| Gốm, sứ, đất nung | Thổ | Có người tính thêm Hoả vì nung qua lửa | Nứt ngầm, men bong, mẻ |
| Đá tự nhiên nguyên khối | Thổ (về chất), xét màu là chính | Đá trắng xếp Kim, đá đen xếp Thuỷ theo màu | Nhuộm, nung, ghép, bơm keo |
| Pha lê, thuỷ tinh | Thuỷ (nhiều nơi), Kim (một số nơi) | Hai cách xếp cùng tồn tại | Pha lê chì hay thuỷ tinh thường |
| Bột đá đúc, composite | Thường xét theo màu sơn | Người bán hay gọi chung là "đá" | Lỗ khuôn, độ nặng, lớp sơn |
| Nhựa, resin | Xét theo màu | Hay giả đá, giả hổ phách | Nhẹ, ấm tay, tiếng gõ đục |
Điều quan trọng rút ra từ bảng: với nhiều món, màu nhìn thấy mới là yếu tố người ta dựa vào khi xếp hành, còn chất liệu là yếu tố thứ hai. Một bức tượng gỗ sơn son đỏ được nhiều người tính là món Hoả, dù chất liệu là gỗ.
Kim loại: đồng đặc, đồng mạ, bạc và kim loại xi
Đồng thau và đồng vàng. Hợp kim đồng – kẽm, màu vàng, là chất liệu phổ biến nhất cho tượng tỳ hưu, thiềm thừ, hồ lô, thuyền buồm. Đồng thau đặc nặng tay, âm thanh khi gõ trầm và ngân. Theo thời gian bề mặt sẫm dần; lau bằng khăn khô, chất đánh đồng dùng theo hướng dẫn trên bao bì.
Đồng đỏ. Hàm lượng đồng cao, màu đỏ cam, mềm hơn đồng thau, giá thường cao hơn. Người mệnh Hoả hay chọn vì màu ấm; người mệnh Kim thì vẫn coi là món Kim theo chất liệu.
Hợp kim mạ đồng. Lõi là hợp kim kẽm hoặc nhôm, phủ lớp màu đồng bên ngoài. Nhẹ hơn, giá rẻ hơn, đường nét có khi rất sắc. Nhược điểm là chỗ trầy lộ màu xám trắng, lớp mạ bong dần ở chỗ hay cầm. Không xấu, chỉ cần được bán đúng tên.
Bạc và kim loại xi bạc. Bạc dùng nhiều ở đồ đeo, ít ở tượng lớn. Bạc xỉn đen khi gặp mồ hôi, không khí có hợp chất lưu huỳnh; xi rhodium giúp lâu xỉn nhưng sẽ mòn. Tượng "mạ bạc" thường là đồng hoặc hợp kim phủ bạc mỏng.
Câu hỏi nên hỏi. Đúc liền hay ghép, đồng đặc hay rỗng ruột, lõi là gì, có bảo hành lớp mạ không. Lật đáy tượng xem đường ráp khuôn và màu kim loại ở chỗ chưa được đánh bóng.
Gỗ, gốm và đất nung: ấm, mộc, nhưng có giới hạn
Gỗ là chất liệu của hành Mộc, hay gặp ở tượng chạm, hồ lô, đế đỡ, khay, vòng hạt. Gỗ cứng thớ mịn như gỗ hương, gỗ trắc, gỗ mun bền và lên nước bóng đẹp; gỗ mềm rẻ hơn nhưng dễ móp, dễ mối. Rủi ro lớn nhất của gỗ là nứt khi chuyển từ môi trường ẩm sang phòng máy lạnh khô. Khi mua, nhìn đáy và chỗ dày nhất, hỏi gỗ đã sấy chưa. Gỗ có mùi tẩm quá nồng nên để thoáng vài ngày trước khi đặt trong phòng kín.
Gốm và sứ thuộc Thổ, có người tính thêm Hoả vì làm ra từ lửa lò nung. Bình gốm, hồ lô gốm, tượng sứ, đĩa men là món đẹp, giá mềm, hợp mệnh Thổ và mệnh Kim (Thổ sinh Kim). Gốm giòn, sợ va; gốm có vết nứt ngầm gõ nghe tiếng rè, rót nước vào để lâu thấy rỉ. Men rạn là kiểu men có vân rạn chủ ý, khác với nứt; vân rạn nằm trong lớp men, sờ không thấy gờ.
Đất nung không tráng men thì xốp, hút ẩm, dễ bám rêu khi để ban công. Món đất nung đặt trong nhà nên kê đĩa lót, không đặt trực tiếp lên mặt gỗ vì hơi ẩm thấm xuống để lại vết.
Đá tự nhiên, pha lê, thuỷ tinh: chỗ hai cách xếp cùng tồn tại
Đá tự nhiên về bản chất là khoáng vật từ đất, nên nhiều người xếp vào Thổ. Nhưng khi chọn vật phẩm, gần như ai cũng xét màu của đá trước: thạch anh trắng tính là Kim, đá đen tính là Thuỷ, đá xanh lá tính là Mộc, đá đỏ tím tính là Hoả, đá vàng nâu tính là Thổ. Cách đọc này cho phép người mệnh nào cũng có đá để chọn, và là cách các cửa hàng phân nhóm "đá hộ mệnh".
Pha lê và thuỷ tinh là chỗ có hai cách xếp. Cách thứ nhất xếp vào Thuỷ vì trong suốt, gợi hình ảnh nước, băng. Cách thứ hai xếp vào Kim vì sáng lấp lánh, làm ra từ cát nung chảy như luyện kim. Không cách nào "đúng" hơn; người mua nên biết cả hai, và khi một người bán nói chắc như đinh đóng cột, nên hiểu đó là cách xếp người đó theo.
Pha lê trong ngành thường chỉ thuỷ tinh có pha chì hoặc các ôxit khác để tăng độ trong và độ lấp lánh khi cắt mài. Đồ pha lê chì dùng để trưng bày thì không sao, nhưng không nên dùng làm ly chứa đồ uống có tính axit để lâu. Quả cầu pha lê trong suốt, giống quả cầu thạch anh, có thể hội tụ nắng và gây cháy, nên tránh bậu cửa sổ.
Bột đá đúc, composite và nhựa: rẻ, đẹp, nhưng phải được gọi đúng tên
Ba nhóm chất liệu này chiếm phần lớn tượng linh vật giá mềm trên thị trường. Không có gì sai khi dùng chúng; vấn đề chỉ nằm ở chỗ bị gọi nhầm là đá hay đồng:
- Bột đá đúc: bột đá trộn keo, đổ khuôn, sơn phủ. Đường nét đều, giá mềm, nhẹ hơn đá nguyên khối khoảng một phần ba trở lên. Đáy hay có lỗ đổ khuôn bịt lại, mặt cắt (nếu có chỗ mẻ) đồng màu, không có vân.
- Composite giả đồng: lõi nhựa hoặc bột đá, phủ sơn ánh đồng. Rất nhẹ so với cỡ, gõ nghe tiếng đục, chỗ mài mòn lộ màu trắng xám. Đặt ngoài trời thì lớp sơn bạc màu dưới nắng.
- Nhựa resin giả đá, giả hổ phách: nhẹ, ấm tay, có thể có bọt khí tròn. Hổ phách thật cũng nhẹ, nên với món giá cao, giấy giám định là cách chắc chắn.
- Đá ghép, đá ép: mảnh đá vụn hoặc bột đá ép keo thành khối, cắt mài giống đá nguyên. Vân lặp lại, các mảnh có ranh giới rõ khi soi đèn.
- Về hành: các chất liệu nhân tạo này thường được xếp theo màu nhìn thấy, vì bản thân chất liệu không gắn với hành nào trong tập quán.
Nếu ngân sách hạn chế, một tượng bột đá đúc đẹp, được bán đúng tên, vẫn tốt hơn một tượng "đá thật" mà thật ra là bột đá bị đội giá.
Chọn chất liệu theo khí hậu, chỗ đặt và người dùng
Nhà nồm ẩm, gần biển. Đồng nhanh sẫm và lên gỉ xanh, hợp kim mạ dễ bong, gỗ dễ mốc, đất nung mọc rêu. Đá tự nhiên đã đánh bóng, gốm men và pha lê là ba nhóm bền nhất trong môi trường này. Nhà gần biển thì hơi muối còn làm kim loại xỉn nhanh hơn.
Phòng máy lạnh chạy cả ngày. Không khí khô làm gỗ co và nứt, nhất là gỗ chưa sấy kỹ. Đặt đồ gỗ xa cửa gió, có thể để một chậu cây thật gần đó cho độ ẩm bớt khô. Đá, đồng, gốm hầu như không bị ảnh hưởng.
Chỗ có nắng chiếu. Pha lê và thạch anh trong suốt có thể tụ nắng gây cháy; thạch anh tím, thạch anh hồng nhạt màu khi phơi nắng lâu; nhựa, resin, sơn phủ bạc màu và giòn. Chỗ nắng hợp với đồ đồng, đá đục màu và gốm men.
Nhà có trẻ nhỏ, thú cưng. Ưu tiên chất liệu không vỡ thành mảnh sắc như đồng, gỗ, đá đục; đặt gốm, pha lê, thuỷ tinh trên kệ cao có gờ. Hạt vòng, đồng xu nhỏ, viên đá thất tinh là vật nhỏ, cất xa tầm tay trẻ dưới ba tuổi.
Người lớn tuổi. Chọn món nhẹ, dễ lau, ít chi tiết rỗng đọng bụi. Gỗ, đồng nhỏ và gốm men trơn được ưa hơn những món đá nhiều khe kẽ hay tượng chạm cầu kỳ.
Món nhiều chất liệu và cách chọn khi chất liệu "đánh nhau" với màu
Rất nhiều vật phẩm phối nhiều chất liệu: cây đá quý gồm lá đá, cành dây đồng, chậu gốm hoặc đá; thuyền buồm gồm thân gỗ, buồm đồng; quả cầu đá đặt trên đế gỗ. Người bán hàng có kinh nghiệm thường xét phần chiếm diện tích lớn nhất và phần "chủ thể" mà mắt nhìn vào. Cây đá quý thì lá đá là chủ thể; thuyền buồm thì thân và buồm là chủ thể; đế chỉ là phần phụ, có thể đổi.
Khi chất liệu và màu không cùng một hành, ví dụ đồng đỏ (Kim về chất, Hoả về màu), người ta thường dựa vào màu cho đồ trang trí và dựa vào chất liệu cho đồ đeo sát người. Không có quy định chặt; điều đáng giữ là chọn món mình thấy hợp mắt và hiểu rõ nó làm bằng gì. Các mẫu theo từng chất liệu, từ đồng, đá đến gỗ, nằm rải trong các nhóm Tỳ Hưu Phong Thủy, Thiềm Thừ Phong Thủy và Vật Phẩm May Mắn trên vatphamphongthuy.com.
Câu hỏi thường gặp
Pha lê thuộc hành Kim hay hành Thuỷ?
Cả hai cách xếp đều có. Cách xếp vào Thuỷ dựa trên độ trong suốt giống nước; cách xếp vào Kim dựa trên độ sáng lấp lánh và việc làm ra từ cát nấu chảy. Người mua nên biết cả hai và chọn theo màu, chỗ đặt, chứ không nên bận tâm quá vào chuyện xếp hành.
Tượng bột đá đúc có kém hơn tượng đá nguyên khối không?
Kém về độ bền va đập lâu dài và không có vân đá tự nhiên, nhưng nhẹ hơn, rẻ hơn, đường nét đều. Với chỗ đặt trên cao hay kệ nhẹ, bột đá đúc lại hợp hơn. Điều quan trọng là được bán đúng tên và đúng giá của bột đá.
Đồ đồng đặt ngoài ban công có sao không?
Đồng chịu thời tiết khá tốt nhưng sẽ sẫm màu, có thể lên lớp gỉ xanh ở chỗ đọng nước. Hợp kim mạ đồng đặt ngoài trời thì lớp mạ bong nhanh. Ban công có gió mạnh cần cố định món đồ, tránh rơi xuống tầng dưới.
Vòng gỗ và vòng đá, loại nào bền hơn khi đeo hằng ngày?
Đá cứng như thạch anh, mắt hổ bền với trầy xước nhưng có thể mẻ khi va mạnh. Gỗ không mẻ nhưng sợ nước, sợ mồ hôi lâu ngày và có thể nứt khi khô. Người hay rửa tay, làm việc ẩm nên chọn đá; người cần vòng nhẹ thì chọn gỗ.
Làm sao biết tượng là đồng đặc hay rỗng ruột?
Cầm thử để cảm nhận độ nặng so với cỡ, gõ nhẹ nghe tiếng; đồng rỗng gõ vang hơn và nhẹ hơn rõ rệt. Lật đáy xem có lỗ rót hoặc nắp bịt không. Tượng đồng lớn thường đúc rỗng là bình thường, miễn người bán nói rõ.