VatPhamPhongThuy.vnVật Phẩm Phong Thủy
Thiềm thừ bằng đồng và trang sức

Các mẫu thiềm thừ đồng: ngồi đế tiền, cõng nguyên bảo, đế bát quái và tượng Lưu Hải

Thiềm thừ đồng có nhiều mẫu: ngồi đống tiền, cõng nguyên bảo, đế bát quái, cặp đôi, tượng Lưu Hải. Mỗi mẫu khác ở đâu, hợp chỗ nào, nhìn tay nghề ra sao.

Row of assorted bronze three-legged toad statues of different poses lined on a long wooden shelf in a Bat Trang style showroom in Hanoi, warm overhead light, wide shot

Thiềm thừ bằng đồng trên thị trường xoay quanh năm nhóm mẫu chính: cóc ngồi trên đống tiền xu, cóc cõng hoặc ôm thỏi nguyên bảo, cóc ngồi đế hình bát quái, cặp cóc đôi bày đối xứng, và tượng Lưu Hải đứng hoặc cưỡi trên lưng cóc. Các mẫu chung một hình tượng cóc ba chân ngậm tiền, khác nhau ở đế, vật đi kèm và bố cục tổng thể.

Chọn mẫu là chọn bố cục cho chỗ đặt: đế rộng cần mặt kệ rộng, mẫu có tượng người cần khoảng cao, cặp đôi cần hai vị trí cân nhau. Bài này đi qua từng mẫu, giải thích phần tích truyện đi kèm ở mức giai thoại dân gian, rồi chỉ cách nhìn tay nghề đúc trên từng chi tiết. Ý nghĩa may mắn của từng mẫu là quan niệm truyền miệng; còn độ cân đối, độ sắc nét và độ chắc chân là thứ bạn kiểm được bằng mắt.

Một mẫu thiềm thừ được tạo nên từ những phần nào

Nhìn kỹ một con thiềm thừ đồng, bạn sẽ thấy bốn lớp thiết kế chồng lên nhau. Lớp thứ nhất là thân cóc: mập hay thon, lưng nhiều nốt hay ít nốt, có hoạ tiết đồng tiền chạm chìm trên lưng hay không. Lớp thứ hai là tư thế đầu: ngẩng cao, nhìn thẳng hay hơi cúi, miệng ngậm tiền hay ngậm hạt châu. Lớp thứ ba là ba chân: hai chân trước chống thẳng, một chân sau gập, đôi khi chân bám lên vật đi kèm.

Lớp thứ tư là đế và vật đi kèm, chính là chỗ tạo nên tên gọi của mẫu: đống tiền, nguyên bảo, bát quái, lá sen, hoặc không đế. Khi đọc tên sản phẩm, phần đứng sau chữ "thiềm thừ" thường mô tả lớp này. Hai con cùng tên "thiềm thừ đế tiền" vẫn có thể khác hẳn nhau về thân và đầu, nên đừng chọn chỉ theo tên.

Biết bốn lớp này giúp bạn so sánh hai mẫu đúng cách: so thân với thân, đế với đế. Một con thân đẹp đặt trên đế đúc qua loa vẫn là món kém, vì khi đặt lên kệ, đế là phần chiếm diện tích lớn nhất và lọt vào mắt đầu tiên.

Năm nhóm mẫu thường gặp

Thiềm thừ ngồi đống tiền. Cóc ngồi trên một khối xu xếp chồng hoặc rải tung. Đây là mẫu phổ biến nhất, dễ hiểu nghĩa, hợp quầy thu ngân và kệ phòng khách. Điểm cần xem là các đồng xu trên đế có được tạc rõ lỗ vuông, viền tiền hay chỉ là các khối tròn mờ.

Thiềm thừ cõng hoặc ôm nguyên bảo. Trên lưng hoặc dưới chân cóc là thỏi nguyên bảo, dạng thỏi bạc hai đầu vểnh thời xưa. Mẫu này thường được đánh bóng phần thỏi cho sáng hơn thân, tạo điểm nhấn. Thỏi nguyên bảo là vật trang trí, không phải kim loại quý.

Thiềm thừ đế bát quái. Cóc ngồi trên đế tròn hoặc tám cạnh chạm hình bát quái. Mẫu này trông trang trọng, hợp bàn làm việc lớn. Đế tám cạnh chiếm chỗ nhiều; đo mặt bàn trước khi đặt.

Cặp thiềm thừ đôi. Hai con giống nhau hoặc đối xứng gương, bán theo cặp để bày hai bên quầy, hai đầu kệ. Nên kiểm hai con cùng mẻ đúc để màu và nét giống nhau.

Tượng Lưu Hải với cóc. Hình một chú bé hoặc người đàn ông vui vẻ tay cầm chuỗi tiền, đứng cạnh hoặc cưỡi lên lưng cóc. Mẫu cao, nhiều chi tiết, thường đặt trên kệ tủ chứ không đặt sát sàn.

Giai thoại Lưu Hải và con cóc vàng

Mẫu tượng Lưu Hải bắt nguồn từ một giai thoại dân gian Trung Hoa được nhiều người biết dưới tên "Lưu Hải hí kim thiềm", tạm hiểu là Lưu Hải đùa với con cóc vàng. Câu chuyện có nhiều dị bản; bản phổ biến kể Lưu Hải dùng chuỗi tiền làm mồi nhử con cóc ba chân, và từ đó hình ảnh người cầm chuỗi tiền đi cùng con cóc trở thành đề tài quen thuộc trong tranh tết, tượng gốm và đồ đồng.

Ở Việt Nam, đề tài này không phổ biến bằng ở Trung Hoa, nhưng xuất hiện nhiều trên đồ mỹ nghệ nhập về và trên tượng do các xưởng trong nước đúc theo mẫu. Khi người bán gọi là "Lưu Hải hí thiềm" hay "thiềm thừ Lưu Hải", họ đang nói đến mẫu này. Nhân vật và các chi tiết truyện thuộc về văn học dân gian, không có ngày tháng hay địa danh để kiểm chứng như sử liệu.

Về thiết kế, tượng Lưu Hải có ưu điểm là kể được một câu chuyện; khách đến nhà nhìn vào sẽ hỏi, và đó là dịp để kể lại tích truyện. Nhược điểm là chuỗi tiền trong tay nhân vật thường là chi tiết mảnh, dễ cong khi va chạm, nên mẫu này hợp đặt trong tủ kính hoặc ở chỗ ít người qua lại.

Đầu ngẩng, đầu cúi và thứ ngậm trong miệng

Thiềm thừ ngẩng cao đầu cho dáng tự tin, hợp tượng cỡ lớn nhìn từ xa. Thiềm thừ nhìn thẳng là dáng trung tính, dễ đặt ở đâu cũng hợp. Dáng hơi cúi ít gặp hơn, thường thấy trên mẫu cóc nằm bò, hợp tượng nhỏ đặt cạnh khay trà hay bàn học. Không có quy ước dân gian nào bắt buộc dáng đầu; đây là lựa chọn mỹ thuật của thợ.

Thứ ngậm trong miệng đa số là đồng tiền. Một số mẫu thay bằng hạt châu tròn, có khi là viên đá màu gắn vào miệng đồng. Hạt châu gắn bằng keo cần kiểm độ chắc, vì đá rơi ra để lại hốc trống khó sửa. Có mẫu miệng ngậm một chuỗi tiền dài thõng xuống đế, chuỗi này hay được đúc liền để khỏi gãy.

Mắt cóc là chi tiết quyết định thần thái. Mắt đúc nổi tròn, có viền mí và con ngươi rõ cho cảm giác sống động; mắt mờ, lệch nhau là dấu hiệu khuôn đã dùng quá nhiều lần hoặc khâu sửa nguội làm vội. Có xưởng gắn mắt bằng đá đỏ hoặc đá đen; đẹp khi mới nhưng cần xem keo có lem ra viền không.

Mẫu nào hợp chỗ nào

Bảng dưới gợi ý theo kích thước mặt đặt và cách dùng. Đây là gợi ý về bố cục; quan niệm hướng đặt thì tuỳ nếp nhà bạn.

MẫuChỗ hợpLưu ý bố cục
Ngồi đống tiềnQuầy thu ngân, kệ phòng khách, bàn làm việcĐế gọn, dễ đặt; chọn cỡ cân với mặt quầy
Cõng nguyên bảoKệ trưng bày, tủ rượu, bàn tràPhần thỏi sáng là điểm nhấn, đặt nơi có ánh sáng tốt
Đế bát quáiBàn làm việc lớn, phòng tiếp kháchĐế rộng, cần mặt bàn đủ chỗ
Cặp đôiHai đầu quầy, hai bên kệ tiviCần hai vị trí cân nhau về độ cao và ánh sáng
Tượng Lưu HảiTủ kính, kệ cao trong phòng kháchChi tiết mảnh, tránh chỗ hay va chạm
Không đế, cóc bòKhay trà, bàn học, cạnh chậu câyNhỏ gọn, dễ dời, dễ rơi nếu đặt mép bàn

Khi phân vân giữa hai mẫu, hãy cắt một tờ giấy bằng kích thước đế rồi đặt thử lên chỗ định bày. Một tờ giấy cho bạn biết ngay mẫu ấy có chiếm quá nửa mặt quầy hay không.

Ánh sáng cũng quyết định mẫu nào trông đẹp. Mẫu nhiều chi tiết như tượng Lưu Hải hay đế bát quái cần ánh sáng chiếu xiên để nổi khối; đặt trong góc tối, các chi tiết ấy chìm hết và tượng trông như một khối sẫm. Mẫu tối giản, mặt bóng thì chịu được ánh sáng yếu hơn.

Đồng kết hợp vật liệu khác: đế gỗ, phần mạ, chi tiết đá

Không ít mẫu thiềm thừ đồng được bán kèm đế gỗ rời: gỗ hương, gỗ cẩm, gỗ trắc hay gỗ thường nhuộm màu, tiện tròn hoặc đục hình sóng nước. Đế gỗ nâng tượng lên một chút, giúp tượng nổi hơn trên mặt kệ và đỡ trầy mặt bàn. Khi mua, xem mặt trên đế có khoét lõm vừa chân cóc không; đế phẳng trơn để tượng nặng đứng trên dễ trượt khi ai đó lau quầy.

Kiểu thứ hai là đồng kết hợp mạ từng phần: thân hun sẫm, còn đồng tiền, thỏi nguyên bảo hoặc viền đế được mạ vàng cho nổi. Kỹ thuật này đòi hỏi che chắn khi mạ; ranh giới giữa phần mạ và phần hun là chỗ bạn nhìn ra tay nghề, đẹp thì sắc gọn, ẩu thì lem nhoè. Phần mạ sẽ mòn trước ở chỗ hay chạm.

Kiểu thứ ba là đồng gắn đá: mắt đá, hạt châu đá ở miệng, hoặc lưng cóc nạm những viên đá màu nhỏ. Đá nhỏ trên tượng mỹ nghệ thường là đá nhân tạo hay thuỷ tinh; nếu người bán nói là đá quý tự nhiên, hãy hỏi rõ tên đá và cách kiểm. Phần đá gắn keo nên được giữ khô khi lau.

Nhìn tay nghề đúc trên một mẫu bất kỳ

Năm chỗ dưới đây cho biết tượng được đúc và sửa nguội kỹ đến đâu, áp dụng cho mọi nhóm mẫu.

  1. Mắt và mí. Hai mắt cân nhau, viền mí rõ, không có bavia sót lại.
  2. Nốt sần trên lưng. Nốt tròn đều, phân bố tự nhiên, không bị bẹt ở một bên do khuôn lệch.
  3. Ngón chân. Ngón tách rõ, có màng giữa ngón ở mẫu tinh; mẫu thô chỉ là một khối tròn.
  4. Đồng tiền và chi tiết đế. Lỗ vuông, viền tiền, vân bát quái sắc, không nhoè.
  5. Đường ráp khuôn. Xoay tượng tìm đường chạy dọc hai bên thân; đường đã được dũa sạch là dấu hiệu sửa nguội cẩn thận.

Một mẫu đẹp không cần nhiều chi tiết, nhưng chi tiết nào có thì phải rõ. Mẫu tối giản ít nốt, ít hoạ tiết vẫn có thể là món làm kỹ nếu bề mặt phẳng mịn và đường nét dứt khoát.

Mẫu cổ điển hay mẫu tối giản hiện đại

Bên cạnh các mẫu truyền thống nhiều chi tiết, vài năm gần đây xuất hiện thiềm thừ đồng dáng tối giản: thân trơn bóng, nốt sần được cách điệu thành vài chấm nổi, đế là khối hình học. Mẫu này hợp căn hộ hiện đại, bàn làm việc gỗ sáng màu, nơi một con cóc nhiều chi tiết trông lạc lõng.

Mẫu cổ điển hợp nhà có đồ gỗ sẫm, tủ chè, sập gụ, hoặc phòng khách bày nhiều đồ đồng khác. Nếu nhà bạn đã có lư hương, chân nến bằng đồng hun giả cổ, một con thiềm thừ cùng lớp hun sẽ hoà vào không gian. Trộn một con đánh bóng sáng giữa toàn đồ hun trầm sẽ tạo điểm nhấn, nhưng cũng có thể chói nếu đặt gần nhau.

Không mẫu nào "đúng" hơn mẫu nào. Cách chọn chắc tay là đứng ở cửa phòng nhìn vào chỗ định đặt, hình dung con cóc ở đó và hỏi: nó có cân với đồ xung quanh không, có bị che khuất không, có chắn lối lau dọn không.

Câu hỏi thường gặp

Thiềm thừ đế bát quái có khác ý nghĩa với thiềm thừ đế tiền không?

Theo cách hiểu phổ biến, đế tiền nhấn vào hình ảnh tiền bạc, còn đế bát quái gắn với biểu tượng cân bằng âm dương trong văn hoá Á Đông. Đây là cách diễn giải truyền miệng, không có quy chuẩn. Về sử dụng, đế bát quái rộng hơn và trang trọng hơn, hợp bàn lớn.

Có nên mua cặp thiềm thừ hay chỉ một con?

Tuỳ chỗ đặt. Một con hợp bàn làm việc, quầy nhỏ, kệ một điểm nhìn. Cặp đôi hợp khi có hai vị trí đối xứng như hai đầu quầy lễ tân. Không có tập quán bắt buộc phải bày đôi với thiềm thừ, khác với một số linh vật vốn đi theo cặp.

Tượng Lưu Hải cưỡi cóc có đặt dưới thấp như thiềm thừ thường không?

Nhiều người vẫn đặt ở kệ thấp vừa tầm mắt khi ngồi. Tuy vậy tượng Lưu Hải cao và có chi tiết mảnh, đặt sát sàn dễ bị chân người hoặc thú cưng va đổ. Kệ thấp trong tủ kính hoặc mặt tủ thấp ổn định là lựa chọn dung hoà.

Thỏi nguyên bảo trên thiềm thừ có phải vàng thật không?

Với thiềm thừ đồng thông thường thì không. Thỏi nguyên bảo cùng chất liệu với thân, chỉ được đánh bóng hoặc mạ màu vàng cho nổi. Nếu người bán nói có vàng thật, hãy yêu cầu ghi rõ trên hoá đơn tuổi vàng, trọng lượng phần vàng và cách kiểm.

Mẫu thiềm thừ nào hợp làm quà khai trương cửa hàng?

Mẫu ngồi đống tiền hoặc cõng nguyên bảo cỡ vừa quầy thường được chọn vì dễ hiểu nghĩa và dễ đặt. Trước khi mua, nên hỏi khéo người nhận kích thước quầy và phong cách cửa hàng, tránh tặng tượng quá to khiến họ không có chỗ bày.

Thiềm thừ mắt gắn đá đỏ có cần lưu ý gì khi lau?

Lau quanh mắt bằng khăn khô, không ngâm nước và không dùng dung môi, vì keo gắn đá có thể mềm ra hoặc ố. Nếu một mắt bị rơi, giữ lại viên đá và nhờ thợ gắn lại bằng keo chuyên dụng cho kim loại – đá, tránh tự dùng keo dán nhanh làm lem viền.

Xem mẫu thật tại Vật Phẩm Phong Thủy

Ảnh thật, chất liệu và kích thước ghi rõ từng mẫu — nhóm thiềm thừ bằng đồng và trang sức. Cần chọn theo tuổi, theo chỗ đặt thì hỏi người bán trước khi đặt.

Xem thiềm thừ đồng, trang sức →

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183