Giáo viên thường chọn vật phẩm gắn với chữ nghĩa và giấy bút: tháp văn xương, bình đựng bút, chặn giấy bằng đá hoặc đồng, nghiên mực mỹ nghệ, cây đá quý nhỏ; đồ đeo thì chọn món nhẹ, kín đáo, không vướng khi viết bảng. Theo tập quán, tháp văn xương gắn với ý học hành, chữ nghĩa, nên rất hợp bàn soạn bài.
Ý nghĩa đó là lời chúc, không bảo đảm học trò giỏi lên hay thầy cô được thăng hạng. Phần thực tế của bài này nằm ở chỗ khác: giáo viên làm việc ở nhiều chỗ (bàn ở nhà, phòng giáo viên, bàn trên lớp), tay luôn cầm phấn hoặc bút, nhiều thầy cô dạy trẻ nhỏ. Mỗi điều đó đổi cách chọn món.
Bàn soạn bài ở nhà: chỗ đặt vật phẩm hợp nhất
Phần lớn việc soạn giáo án, chấm bài, chuẩn bị đồ dùng dạy học diễn ra ở nhà, vào buổi tối. Bàn soạn bài thường chất đầy vở học sinh, giấy kiểm tra, sách giáo khoa. Vì vậy món có ích được ưu tiên: một chặn giấy đá nặng vừa tay để giữ xấp bài không bay khi bật quạt, một bình bút đá hoặc gỗ đủ chỗ cho bút đỏ, bút chì, thước.
Tháp văn xương là món hay được chọn nhất cho bàn soạn bài. Tháp thường có 9 hoặc 13 tầng, cao từ 15 đến 30 cm, làm bằng đồng, đá thạch anh, ngọc hoặc gỗ. Với bàn học ở nhà cỡ 100–120 cm, tháp 15–20 cm là vừa; tháp cao hơn hợp kệ sách phía sau. Tháp có đỉnh nhọn và các tầng nhỏ dễ gãy, nên đặt xa mép bàn, xa chỗ trẻ trong nhà với tới.
Đèn bàn là thứ giáo viên dùng nhiều giờ mỗi tối. Đặt vật phẩm sao cho không che ánh đèn xuống mặt giấy, không tạo bóng đổ. Tháp đồng bóng đặt ngay dưới đèn có thể phản ánh sáng chói vào mắt; xoay tháp hoặc chọn đồng mờ.
Từng món trên bàn soạn bài: ý nghĩa theo tập quán và cách chọn
Tháp văn xương. Tháp nhiều tầng, tập quán gắn với ý học hành, khoa cử, chữ nghĩa. Chọn tháp có trục thẳng, các tầng đều nhau, mái không mẻ; đáy rộng hơn tầng một để đứng vững. Tháp đồng bền, tháp thạch anh đẹp nhưng các tầng mảnh dễ gãy khi lau.
Bình đựng bút. Món có ích nhất với người dạy học. Bình ngọc, bình đá, bình gỗ đều phổ biến; chọn lòng bình đủ sâu cho bút dài, đáy nặng để không đổ khi rút bút, đáy có lót nỉ để không trầy mặt bàn.
Chặn giấy. Khối đá hoặc thỏi đồng dẹt, đôi khi chạm hồ lô, rồng, cá chép. Chọn loại nặng 300–500 gam, đủ giữ xấp bài khi bật quạt, cạnh bo tròn để không quẹt rách giấy.
Nghiên mực mỹ nghệ. Thầy cô dạy văn, dạy chữ đẹp, thư pháp đôi khi thích một chiếc nghiên đá nhỏ làm đồ trưng bày. Nghiên dùng thật cần lòng nghiên nhẵn, có nắp đậy để mực không khô.
Cây đá quý nhỏ. Hợp thầy cô không thích hình tượng tháp. Cây 12–15 cm đủ đẹp mà không chiếm chỗ của xấp bài.
Phòng giáo viên và bàn trên lớp: món nhỏ, ít gây chú ý
Phòng giáo viên ở nhiều trường là bàn dài dùng chung, mỗi thầy cô một khoảng nhỏ, có khi chỉ là một ngăn tủ. Đặt vật phẩm ở đây nên chọn món nhỏ, gọn, không đắt tiền, vì nhiều người qua lại và không phải lúc nào cũng có người trông. Bình bút, chặn giấy, một cây đá mini là đủ.
Bàn giáo viên trên lớp thì nên hạn chế. Học sinh nhỏ tò mò, hay cầm nghịch đồ trên bàn cô; một món đá có cạnh sắc, một tháp nhiều tầng dễ gãy, một hạt đá nhỏ là rủi ro thật. Với lớp mầm non và tiểu học, nhiều trường có quy định không để đồ cá nhân dễ vỡ, vật nhỏ trên bàn giáo viên; nên tuân theo.
Giờ ra chơi, phòng học thường không có giáo viên; đồ để trên bàn cô là đồ không ai trông. Một món đá nhỏ đẹp rất dễ thành món đồ học sinh cầm ra sân khoe bạn rồi đánh rơi. Mất món đồ là chuyện nhỏ; một em bị đá sắc cứa tay hay một cuộc tranh cãi "ai làm vỡ đồ của cô" mới là chuyện không đáng có.
Nếu muốn có một món trên lớp, chọn món không vỡ, không nhỏ, như một khối gỗ chạm, một khay gỗ đựng phấn hay bút lông. Ý nghĩa vẫn có, mà an toàn cho trẻ đặt lên trước. Một số thầy cô chọn đặt vật phẩm ở góc học tập tại nhà và giữ bàn trên lớp hoàn toàn trống, đó cũng là cách làm hợp lý.
Đồ đeo khi đứng lớp: nhẹ, kín đáo, không vướng
Viết bảng phấn, bảng trắng. Tay cầm phấn hay bút lông giơ lên cao, vòng tay trượt xuống cổ tay rồi gõ vào mặt bảng tạo tiếng lách cách. Vòng hạt nhỏ, vừa khít cổ tay, đeo ở tay không viết là lựa chọn hay gặp.
Bụi phấn. Bụi phấn bám vào khe hạt, làm đá đục, gỗ xỉn. Lau vòng bằng khăn ẩm rồi khăn khô sau giờ dạy; đá xốp như mã não, ngọc nên tháo khi lau bảng.
Giáo viên mầm non, tiểu học. Bế trẻ, cúi xuống ngang tầm trẻ, trẻ kéo tay áo là chuyện hằng ngày. Vòng hạt có thể bị giật đứt, hạt rơi là vật nhỏ trẻ dưới ba tuổi có thể nuốt. Nhiều cô chọn không đeo vòng khi ở lớp, chỉ đeo mặt dây chuyền ngắn bên trong cổ áo.
Giáo viên thể dục, giáo dục thể chất. Vận động nhiều, đồ đeo nên là vòng dây dù hoặc silicon có một hạt nhỏ; tháo hẳn khi làm mẫu động tác có va chạm.
Phong cách. Màu trầm, hạt nhỏ, không leng keng hợp không khí lớp học. Đồ đeo quá nổi dễ khiến học sinh chú ý vào cô hơn vào bài.
Chọn theo cấp dạy và hình thức dạy
Mỗi cấp dạy có chỗ làm việc và rủi ro riêng. Bảng sau tổng hợp cách chọn hay gặp:
| Cấp, hình thức dạy | Món hay chọn | Lưu ý |
|---|---|---|
| Mầm non | Đồ để bàn ở nhà; ở lớp hầu như không | Không hạt nhỏ, không đá cạnh sắc trong lớp |
| Tiểu học | Bình bút, chặn giấy ở nhà; khay gỗ ở lớp | Trẻ hay cầm nghịch; tránh đồ dễ vỡ |
| Trung học | Tháp văn xương, bình bút ở bàn soạn bài | Phòng giáo viên dùng chung: món nhỏ, ít giá trị |
| Đại học, nghiên cứu | Tháp văn xương, chặn giấy đồng, kệ sách có món trưng bày | Phòng làm việc riêng chọn món lớn hơn được |
| Dạy trực tuyến | Món nhỏ ngoài khung hình, hoặc một món gọn trong khung | Đồ bóng phản đèn, chói camera; đặt lệch khỏi mặt |
| Trung tâm, gia sư | Bình bút, cây đá mini mang theo được | Hay đổi phòng dạy: món nhỏ có hộp |
Giáo viên dạy trực tuyến nên để ý thêm phông sau lưng: tháp đồng, quả cầu pha lê đặt ngay sau đầu dễ phản chiếu đèn thành đốm sáng trên hình. Đặt món sang một bên, hoặc chọn chất liệu mờ.
Giáo viên theo mệnh: đổi chất liệu, giữ món có ích
Thầy cô quan tâm chuyện mệnh thường không cần đổi món, chỉ cần đổi chất liệu và màu. Tháp văn xương có bản đồng (hợp mệnh Kim, mệnh Thuỷ), bản thạch anh trắng (mệnh Kim, mệnh Thuỷ), bản thạch anh vàng (mệnh Thổ, mệnh Kim), bản ngọc xanh hoặc gỗ (mệnh Mộc, mệnh Hoả), bản thạch anh tím (mệnh Hoả, mệnh Thổ). Bình bút cũng có đủ các loại đá, gỗ, gốm tương tự.
Phòng giáo viên dùng chung thì không cần tính mệnh ai; món nhỏ, trung tính như khay gỗ, bình bút gốm là đủ. Cách đọc màu theo từng mệnh, và cách chọn khi chưa biết mệnh, có ở nhóm bài chọn vật phẩm theo mệnh.
Một lưu ý cho thầy cô lớn tuổi: tháp đồng đặc cỡ 25–30 cm khá nặng, nhấc lên lau bụi mỗi tuần có thể mỏi tay; tháp gỗ hoặc tháp đá nhỏ nhẹ hơn nhiều mà vẫn đủ ý.
Nhận quà từ học sinh, phụ huynh: chừng mực là chính
Quà vật phẩm khá phổ biến. Dịp 20 tháng 11, cuối năm học, phụ huynh hay tặng tháp văn xương, bình bút, cây đá nhỏ. Đây là món có ý, giá trị thường không lớn.
Giá trị nhỏ, mang tính tình cảm. Giáo viên trường công là viên chức, chịu các quy định về tặng quà và nhận quà; nhà trường thường có hướng dẫn riêng. Món lưu niệm giá trị nhỏ thường không thành vấn đề; món đắt tiền nên khéo léo từ chối.
Khi muốn từ chối. Cảm ơn tấm lòng, giải thích ngắn gọn rằng mình chỉ nhận thiệp, hoa hoặc món lưu niệm nhỏ; không làm phụ huynh mất mặt trước người khác.
Ghi lại để cảm ơn. Cuối năm học, nhiều thầy cô nhận cùng lúc vài món giống nhau. Ghi chú nhanh món nào của gia đình nào giúp lời cảm ơn sau đó đúng người, đúng món, tránh nhầm lẫn khó xử khi gặp lại phụ huynh.
Khi tặng lại. Món quà vật phẩm không dùng tới có thể đặt ở phòng giáo viên chung, thư viện, hoặc tặng lại người hợp hơn, miễn tôn trọng tấm lòng người tặng.
Ngân sách, kiểm hàng và việc thật sự giúp người dạy
Tháp văn xương có ở mọi tầng giá: tháp gỗ, tháp bột đá giá mềm; tháp đồng, tháp thạch anh ở tầng giữa; tháp ngọc, tháp đồng đặc chạm tinh ở tầng cao. Khi kiểm tháp đồng, hỏi đồng đặc hay mạ, xem các tầng có thẳng trục không, mái các tầng có mẻ không. Tháp đá nên xem kỹ các khớp nối giữa tầng, vì nhiều tháp được ghép từ nhiều khúc. Bình bút đá xem lòng bình có nhẵn không, đáy có dán nỉ chống trầy không.
Về ý nghĩa, tháp văn xương nhắc chuyện học, chuyện chữ; còn điều thật sự giúp người dạy là giờ ngủ đủ, giọng nói được giữ gìn, kế hoạch soạn bài theo tuần thay vì dồn vào tối Chủ nhật, và thời gian riêng không bị bài chấm nuốt mất. Một góc soạn bài gọn, sáng, có món đồ mình thích trên bàn là một phần của việc chăm chính mình.
Các mẫu thuộc nhóm Chùa Tháp Văn Xương và Bình Ngọc Đựng Bút có thể xem ở vatphamphongthuy.com.
Câu hỏi thường gặp
Tháp văn xương nên chọn 9 tầng hay 13 tầng?
Cả hai đều phổ biến; tập quán không quy định bắt buộc. Tháp 9 tầng thường thấp, gọn, hợp bàn làm việc; tháp 13 tầng cao hơn, hợp kệ sách. Chọn theo chỗ đặt và tỉ lệ với mặt bàn hơn là theo số tầng.
Giáo viên mầm non có nên đeo vòng đá khi đi dạy không?
Nhiều cô chọn không đeo, vì bế trẻ, trẻ kéo tay dễ làm đứt dây và rơi hạt, mà hạt nhỏ là nguy cơ hóc với trẻ dưới ba tuổi. Nếu muốn, đeo mặt dây chuyền ngắn bên trong cổ áo, hoặc chỉ đeo vòng ngoài giờ dạy.
Đặt tháp văn xương ở bàn học của con hay bàn soạn bài của mẹ?
Tuỳ người dùng. Nhiều gia đình đặt ở bàn học của con với ý chúc học hành. Nếu bàn của con nhỏ, có thể chọn tháp nhỏ hoặc bình bút. Chuyện chọn vật phẩm cho bàn học của con có bài riêng, chú trọng an toàn.
Có nên tặng vật phẩm cho đồng nghiệp giáo viên dịp 20 tháng 11?
Được, nếu là món nhỏ, có ích như bình bút đá, chặn giấy, cây đá mini. Món giản dị, có thẻ ghi lời chúc thường được trân trọng hơn món đắt tiền.
Dạy online có nên đặt vật phẩm trong khung hình không?
Có thể đặt một món gọn ở phía sau, lệch khỏi mặt, chất liệu mờ để không phản đèn. Tránh đặt quá nhiều món làm phông rối mắt, khiến học sinh chú ý vào phông hơn vào bài.