Tượng tỳ hưu thường được tạo ở năm tư thế chính: nằm phủ phục, ngồi chồm, đứng bốn chân, đứng bước một chân và ngoái đầu nhìn lại; mỗi tư thế có cảm giác khác nhau, kéo theo độ bền khác nhau và hợp với chỗ bày khác nhau. Quan niệm dân gian có gán một vài ý nghĩa riêng cho từng dáng, nhưng ở mức thực tế, tư thế quyết định trước hết tượng chiếm bao nhiêu chỗ, nhìn đẹp từ góc nào và chi tiết nào dễ gãy.
Bài này dành cho tượng bày trên kệ, bàn, tủ và ngoài cổng; còn dáng tỳ hưu trên nhẫn, mặt dây là chuyện khác vì tỷ lệ đồ đeo bị bó hẹp. Bạn sẽ có một bảng so sánh các tư thế, những ý nghĩa thường được nhắc theo quan niệm, và cách chọn dáng theo vị trí, theo cách bày đôi, theo độ an toàn trong nhà.
Năm tư thế tượng tỳ hưu thường gặp
Tên gọi tư thế không thống nhất giữa các xưởng; bảng dưới mô tả hình dáng để bạn nhận ra khi xem tượng hoặc ảnh.
| Tư thế | Hình dáng | Chiếm chỗ | Điểm yếu về độ bền | Cảm giác |
|---|---|---|---|---|
| Nằm phủ phục | Bụng sát đế, bốn chân thu dưới thân, đầu hơi ngẩng | Dài, thấp | Ít; khối liền, ít chi tiết nhô | Điềm tĩnh, vững chãi |
| Ngồi chồm | Hai chân sau gập, hai chân trước chống thẳng, ngực ưỡn | Ngắn, cao | Sừng và đầu ở vị trí cao, dễ va | Canh giữ, nghiêm |
| Đứng bốn chân | Bốn chân thẳng chạm đế, thân nằm ngang | Dài, cao vừa | Chân mảnh nếu tượng nhỏ | Oai, cân đối |
| Đứng bước một chân | Một chân trước nhấc lên hoặc đặt trên vật như quả cầu, đồng xu | Dài, cao vừa | Chân nhấc dễ gãy | Chuyển động, tiến tới |
| Ngoái đầu | Thân hướng một phía, đầu quay ngoắt nhìn ra sau hoặc sang bên | Tuỳ dáng thân | Cổ là điểm yếu nếu xoắn mạnh | Sinh động, có chuyện kể |
Nếu chỉ chọn một dáng an toàn cho người mới, dáng nằm là dễ bày, bền và hợp nhiều chỗ nhất. Dáng đứng bước và ngoái đầu sinh động hơn nhưng đòi hỏi chỗ bày tính toán hơn và tay nghề tạc tốt hơn.
Ý nghĩa được gán cho từng tư thế theo quan niệm
Dáng nằm. Thường được hiểu là "yên vị giữ nhà", giữ cái đã có, hợp với không gian cần sự ổn định như phòng khách, phòng làm việc của người quản lý. Đây là cách giải thích phổ biến trên thị trường vật phẩm, không có trong sách cổ nào.
Dáng ngồi chồm. Gợi hình ảnh canh gác, nên hay được chọn đặt gần cửa hoặc ở hai bên cổng. Nhiều người liên tưởng tới tượng nghê, sư tử ngồi canh cửa quen thuộc ở đình chùa Việt.
Dáng đứng. Thường được gắn với sự chủ động, sẵn sàng. Dáng đứng bước một chân được một số người bán giới thiệu là "tiến lên", hợp với người mới khởi nghiệp. Bạn có thể đón nhận như một hình ảnh động viên.
Dáng ngoái đầu. Hay được gọi là tỳ hưu hồi đầu, với cách hiểu dân gian là quay lại nhìn, giữ không cho thứ gì lọt ra phía sau, hoặc hướng về gia đình. Có người đặt dáng này ở bàn thu ngân với đầu hướng vào trong. Những cách hiểu này khác nhau tuỳ người giải thích.
Nên hiểu thế nào. Các ý nghĩa trên là lớp diễn giải được thêm vào khi tượng trở thành hàng hoá, không có quy chuẩn. Chọn dáng mà bạn thấy đẹp, thấy hợp với chỗ đặt là đủ; không có dáng nào "kỵ" hay "không tốt".
Chọn tư thế theo chỗ bày
Góc nhìn là điều đầu tiên cần nghĩ. Tượng đặt trên kệ thấp, bàn trà, người xem nhìn từ trên xuống; dáng nằm và dáng đứng thân ngang cho thấy rõ cả lưng, bờm, đuôi, rất hợp. Tượng đặt trên tủ cao ngang hoặc trên tầm mắt, người xem nhìn từ dưới lên; dáng ngồi chồm có ngực ưỡn, đầu ngẩng sẽ hiện rõ khuôn mặt và sừng, còn dáng nằm lại chỉ thấy cái cằm.
Khoảng trống quanh tượng là điều thứ hai. Dáng nằm và dáng đứng chiếm chiều dài, cần mặt kệ rộng theo chiều ngang. Dáng ngồi chiếm chiều cao, hợp ngăn tủ hẹp mà sâu. Dáng ngoái đầu cần chừa khoảng trống ở phía đầu quay về, nếu không, đầu tượng như đang nhìn chằm chằm vào bức tường, mất đi cái hay của tư thế.
Không gian làm việc nhỏ như bàn văn phòng, quầy hàng nên ưu tiên dáng nằm hoặc ngồi, vì khối gọn, ít chi tiết nhô ra. Phòng khách rộng, sảnh, tủ trưng bày có đèn là nơi dáng đứng bước và ngoái đầu thể hiện được vẻ đẹp chuyển động. Cổng và sân ngoài trời hợp nhất với dáng ngồi hoặc nằm có khối chắc, vì chịu thời tiết và va chạm tốt hơn.
Theo cách bày phổ biến, nhiều người cho đầu tỳ hưu hướng ra cửa hoặc ra phía người đi vào. Với dáng ngoái đầu, thân hướng một phía còn đầu hướng phía khác, nên người ta thường đặt sao cho mặt tượng nhìn về phía cửa. Bạn có thể theo hoặc không, miễn là tượng vững và hợp mắt.
Tư thế ảnh hưởng tới độ bền ra sao
Chân nhấc là điểm gãy số một. Ở dáng đứng bước, toàn bộ trọng lượng phần trước dồn lên ba chân còn lại, chân nhấc lên thì treo lơ lửng. Với tượng đá, bột đá, gốm, chỉ cần một cú va nhẹ khi lau là gãy. Mẫu tốt thường cho chân nhấc đặt lên một vật như quả cầu, đồng xu, để có điểm tựa.
Cổ xoắn ở dáng ngoái đầu. Cổ là phần mỏng nhất khi đầu quay ngoặt. Với đá, nếu vân đá chạy ngang qua cổ thì đó là chỗ có thể nứt. Khi mua tượng đá dáng ngoái đầu, xem kỹ vùng cổ dưới ánh sáng mạnh.
Sừng cao ở dáng ngồi. Dáng ngồi đẩy đầu lên cao nhất, sừng thành điểm dễ va vào kệ trên hoặc vào tay khi với lấy đồ. Chừa khoảng trống phía trên đầu tượng ít nhất vài đốt ngón tay.
Đuôi vươn ở mọi dáng. Đuôi tách rời khỏi thân, cuộn cao và mảnh thì đẹp nhưng yếu. Đuôi ôm sát lưng hoặc chạm đế bền hơn nhiều, nhất là với tượng hay phải lau.
Dáng nằm bền nhất. Khối liền, trọng tâm thấp, gần như không có chi tiết treo. Đây là lý do dáng nằm phổ biến ở tượng cỡ lớn, tượng ngoài trời và tượng làm từ vật liệu giòn.
Phối tư thế khi bày đôi hoặc bày cùng đồ khác
Khi bày một cặp, hai con thường cùng tư thế để cân đối, chỉ khác nhau ở sừng hoặc hướng đầu. Một con ngồi, một con nằm đặt hai đầu kệ sẽ tạo cảm giác lệch, trừ khi bạn cố ý tạo bố cục bất đối xứng. Với dáng ngoái đầu, cặp đẹp nhất khi hai con quay đầu về phía nhau hoặc cùng quay về phía cửa, nhìn như hai nửa của một khung.
Khi bày tỳ hưu cùng các món khác trên một kệ, như bình hoa, sách, quả cầu đá, dáng tượng nên tương phản với hình khối xung quanh. Kệ nhiều đồ đứng cao như bình, lọ thì một con tỳ hưu nằm thấp tạo nhịp nghỉ cho mắt; kệ nhiều đồ nằm ngang như sách xếp, hộp thì một con ngồi chồm tạo điểm nhấn chiều cao.
Bạn cũng nên để ý chiều chuyển động. Dáng đứng bước và ngoái đầu có hướng rõ, mắt người xem sẽ đi theo hướng đó. Đặt tượng ở mép trái kệ mà hướng nhìn ra ngoài mép trái thì bố cục như bị kéo ra khỏi kệ; đặt sao cho tượng nhìn vào trong hoặc nhìn thẳng ra phía người xem sẽ giữ được sự tập trung. Đây là nguyên tắc bày đồ quen thuộc trong trang trí nội thất, áp dụng được cho mọi linh vật.
Tư thế nào hợp với chất liệu nào
Mỗi chất liệu có giới hạn riêng về độ mảnh mà nó chịu được, nên không phải tư thế nào cũng hợp với mọi vật liệu. Đồng đúc dẻo và chắc, chịu được chân nhấc, đuôi vươn, cổ xoắn; đây là lý do các mẫu đứng bước và ngoái đầu sinh động thường làm bằng đồng. Đá tự nhiên cứng nhưng giòn, thợ phải chừa khối dày ở chân và cổ, nên tượng đá đẹp nhất ở dáng nằm và ngồi.
Bột đá và resin đúc khuôn tạo được mọi dáng, nhưng chi tiết mảnh dễ gãy khi rơi, vì vậy mẫu bột đá dáng đứng bước nên có điểm tựa dưới chân nhấc. Gốm sứ co ngót khi nung, chi tiết treo dễ cong hoặc nứt trong lò, nên tượng gốm thường ở dáng nằm, ngồi với khối tròn. Gỗ chịu được dáng đứng nếu thớ gỗ chạy dọc theo chân, nhưng sừng và đuôi chạy ngang thớ dễ tách.
Hiểu điều này giúp bạn đánh giá một mẫu nhanh hơn. Một con tỳ hưu đá dáng ngoái đầu mà cổ rất mảnh là dấu hiệu nên xem kỹ; một con đồng dáng nằm thì gần như không có rủi ro về độ bền, chỉ còn chuyện màu và nét đúc.
Xem tư thế qua ảnh khi mua online
Ảnh chính diện thường không cho thấy hết tư thế và điểm yếu của tượng. Trước khi đặt mua, bạn nên xin đủ những góc sau:
- Ảnh nghiêng chín mươi độ để thấy dáng đứng hay ngồi, đuôi ôm sát hay vươn ra, chân nhấc có điểm tựa không.
- Ảnh từ trên xuống để thấy chiều dài thân và độ xoắn của cổ ở dáng ngoái đầu.
- Ảnh cận vùng cổ, chân nhấc và chóp đuôi, nơi dễ gãy hoặc có vết dán.
- Ảnh tượng đặt trên mặt bàn cạnh vật quen để hình dung chiều cao thật.
- Số đo dài, rộng, cao tính cả sừng và đuôi; dáng ngồi và dáng ngoái đầu có số đo rất khác cảm giác trong ảnh.
- Cách đóng gói các chi tiết treo: chân nhấc, đuôi, sừng có được chèn xốp riêng không.
Khi mở hộp, kiểm tra ngay những điểm yếu theo tư thế, chụp ảnh hoặc quay video để báo lại nếu có hư hại trong vận chuyển. Muốn so nhiều tư thế trước khi chọn, bạn có thể xem mẫu có ghi rõ chất liệu, kích thước tại Vật Phẩm Phong Thủy.
Câu hỏi thường gặp
Tỳ hưu nằm hay đứng thì tốt hơn?
Không có dáng nào tốt hơn về mặt ý nghĩa; các cách giải thích như nằm là giữ, đứng là tiến chỉ là quan niệm phổ biến trên thị trường. Về thực tế, dáng nằm bền và dễ bày hơn, dáng đứng sinh động hơn. Chọn theo chỗ đặt và sở thích của bạn.
Tỳ hưu hồi đầu là gì?
Hồi đầu là cách gọi dáng tỳ hưu thân hướng một phía, đầu quay lại nhìn ra sau hoặc sang bên. Theo cách hiểu dân gian, dáng này gợi ý quay lại giữ gìn, hướng về gia đình. Về mặt tạo hình, đây là dáng sinh động nhưng vùng cổ là điểm yếu cần kiểm kỹ.
Dáng nào hợp đặt bàn làm việc nhỏ?
Dáng nằm hoặc ngồi cỡ nhỏ hợp nhất vì gọn, ít chi tiết nhô ra và khó bị gạt đổ. Dáng đứng bước có chân nhấc và đuôi vươn dễ va vào tay, cốc nước hay dây sạc trên bàn chật.
Có nên đặt tỳ hưu đứng bước ngoài cổng không?
Có thể nếu là tượng đá hoặc đồng cỡ lớn có chân nhấc đặt lên quả cầu hay khối đá làm điểm tựa. Chân nhấc treo lơ lửng ngoài trời dễ gãy khi va chạm và đọng nước. Dáng ngồi và nằm thường bền hơn cho vị trí này.
Hai con trong một cặp có cần cùng tư thế không?
Thường nên cùng tư thế để cân đối, chỉ khác nhau ở sừng hoặc hướng đầu. Phối hai tư thế khác nhau được nếu bạn muốn bố cục bất đối xứng có chủ ý, nhưng khó đẹp hơn và dễ trông như mua lẻ hai con không cùng bộ.
Tượng dáng ngoái đầu đặt quay mặt về đâu?
Theo cách bày phổ biến, người ta đặt sao cho khuôn mặt tượng nhìn về phía cửa hoặc phía người xem, còn thân theo chiều kệ. Quan trọng là chừa khoảng trống ở phía đầu quay về để tư thế có chỗ thở, tránh để mặt tượng nhìn sát vào tường.