VatPhamPhongThuy.vnVật Phẩm Phong Thủy
Đá hộ mệnh

Đá hộ mệnh theo cung phi bát trạch: khi nơi bán dùng cung thay cho mệnh nạp âm

Có nơi tư vấn đá hộ mệnh theo cung phi bát trạch thay vì mệnh nạp âm, nên nam nữ cùng tuổi nhận màu khác nhau. Tám cung, hành của từng cung và cách đọc cho đúng.

A man and a woman seen from behind sitting at a low tea table in a Ninh Binh countryside house, two small stones of different colours between their cups, soft daylight

Cung phi, còn gọi là cung mệnh bát trạch, là một trong tám quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài, tính từ năm sinh âm lịch và giới tính; mỗi quẻ thuộc một hành. Khi một nơi bán chọn đá hộ mệnh theo cung phi, nam và nữ sinh cùng năm có thể nhận hai màu đá khác nhau, và màu đó cũng có thể khác màu theo mệnh nạp âm.

Cung phi vốn được dùng chủ yếu trong phong thủy bát trạch để xét hướng nhà, hướng cửa, hướng bàn làm việc. Việc mượn nó sang chọn đá là một cách làm có thật trên thị trường, nhưng ít khi được nói rõ. Bài này giải thích tám cung và hành của từng cung, vì sao nam nữ cùng tuổi khác cung, ba lớp ngũ hành trong một năm sinh dùng vào việc gì, và cách nhận ra một lời tư vấn đang dựa trên cung phi. Tất cả là quy ước văn hoá để tham khảo khi chọn màu, không nói đá làm thay đổi vận số.

Cung phi là gì và vì sao nó xuất hiện trong chuyện chọn đá

Trong phong thủy bát trạch, mỗi người được gán một quẻ trong tám quẻ của Bát quái, gọi là cung phi hay cung mệnh. Quẻ này chia người ta thành hai nhóm: Đông tứ mệnh gồm Khảm, Ly, Chấn, Tốn; Tây tứ mệnh gồm Càn, Khôn, Cấn, Đoài. Mỗi nhóm được cho là hợp với bốn hướng nhà nhất định. Đó là ứng dụng gốc và phổ biến nhất của cung phi.

Vì mỗi quẻ cũng thuộc một hành trong ngũ hành, người ta có thể dùng hành của cung phi để chọn màu, giống như dùng hành của mệnh nạp âm. Một số thầy phong thủy và người bán đá ưa cách này vì họ vốn quen làm việc với bát trạch khi xem nhà, nên khi khách hỏi đá, họ lấy luôn cung phi của khách làm căn cứ.

Vấn đề là khách thường không biết điều đó. Họ nghe “anh hợp đá đen” từ nơi này, “anh hợp đá vàng” từ nơi khác, rồi nghĩ một trong hai bên sai. Thật ra cả hai có thể đều tra đúng, chỉ là mỗi bên dùng một lớp ngũ hành khác nhau của cùng một năm sinh.

Tám cung phi và hành của từng cung

Bảng dưới liệt kê tám quẻ, hành, nhóm Đông – Tây và nhóm màu thường dùng khi quy hành ra màu đá. Màu tương sinh có thể thêm vào theo vòng Thổ sinh Kim, Kim sinh Thuỷ, Thuỷ sinh Mộc, Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ.

CungHànhNhómMàu bản hànhVí dụ đá cùng màu
KhảmThuỷĐông tứ mệnhĐen, xanh dương thẫmObsidian, tourmaline đen, lưu ly
LyHoảĐông tứ mệnhĐỏ, hồng, cam, tímGarnet, mã não đỏ, thạch anh tím
ChấnMộcĐông tứ mệnhXanh láAventurine, peridot, ngọc bích
TốnMộcĐông tứ mệnhXanh láMalachite, tourmaline xanh
CànKimTây tứ mệnhTrắng, xám, ánh kimThạch anh trắng, đá mặt trăng
ĐoàiKimTây tứ mệnhTrắng, xám, ánh kimNgọc trai, thạch anh ưu linh
KhônThổTây tứ mệnhVàng, nâu đấtCitrine, mắt hổ vàng
CấnThổTây tứ mệnhVàng, nâu đấtThạch anh tóc vàng, jasper nâu

Có sáu cung chia đôi theo cặp cùng hành (Chấn – Tốn là Mộc, Càn – Đoài là Kim, Khôn – Cấn là Thổ), chỉ Khảm và Ly đứng một mình. Vì thế, theo cung phi, nhóm Thuỷ và nhóm Hoả ít người hơn các nhóm khác.

Cùng năm sinh, nam nữ khác cung

Điểm khác lớn nhất của cung phi so với mệnh nạp âm là giới tính tham gia vào phép tính, theo quy tắc mà sách bát trạch hay gọi là nam nghịch, nữ thuận. Hai ví dụ dưới dùng cách tính phổ biến; các bạn muốn tự tính có thể tra bảng cung phi theo năm sinh.

Năm sinhMệnh nạp âmCung phi namCung phi nữ
1984 (Giáp Tý)Hải Trung KimĐoài (Kim)Cấn (Thổ)
1990 (Canh Ngọ)Lộ Bàng ThổKhảm (Thuỷ)Cấn (Thổ)

Với năm 1984, cung của nam trùng hành với mệnh nạp âm, còn cung của nữ là Thổ, hành sinh ra Kim. Với năm 1990, cung của nữ trùng hành với mệnh, còn cung của nam là Thuỷ, khác hẳn. Ví dụ giả định: một người đàn ông sinh năm 1990 hỏi hai nơi, một nơi theo nạp âm gợi ý đá vàng nâu, nơi kia theo cung phi gợi ý đá đen. Cả hai đều có căn cứ của mình.

Một số trường phái bát trạch lấy mốc Lập xuân để chuyển năm, nên người sinh tháng Một, tháng Hai dương lịch cần kiểm thêm như với mệnh nạp âm. Riêng số 5 trong phép tính không ứng với quẻ nào, nên sách quy ước nam đổi thành Khôn, nữ đổi thành Cấn.

Ba lớp ngũ hành của một năm sinh dùng vào việc gì

Mệnh nạp âm. Gắn với năm can chi, không phân biệt nam nữ. Trong dân gian Việt Nam, đây là lớp được dùng nhiều nhất khi nói “mệnh Kim, mệnh Hoả” và khi chọn màu xe, màu quần áo, màu đá. Phần lớn bảng đá hợp mệnh trên thị trường dùng lớp này.

Cung phi bát trạch. Tính từ năm sinh và giới tính, dùng chủ yếu để chọn hướng nhà, hướng cửa, hướng giường, hướng bàn. Khi mượn sang chọn đá, nó thường đi cùng việc đặt đá ở một hướng nhất định trong phòng.

Hành của can, của chi. Thiên can của năm (Giáp, Ất thuộc Mộc, chẳng hạn) và địa chi của năm (Tý thuộc Thuỷ) cũng có hành riêng. Bảng đá theo tuổi con giáp hay dùng hành của địa chi.

Không lớp nào bao trùm các lớp kia. Một người có thể có ba hành khác nhau ở ba lớp. Việc chọn lớp nào cho đá là lựa chọn của người dùng; cách gọn nhất là dùng một lớp cho mọi thứ liên quan tới màu, và chỉ dùng cung phi cho chuyện hướng.

Dấu hiệu nhận ra lời tư vấn đang dựa trên cung phi

Không phải nơi bán nào cũng nói rõ căn cứ. Vài dấu hiệu sau cho bạn biết lời tư vấn đá mình nhận được có lẽ đến từ bát trạch:

  • Bạn được hỏi giới tính. Mệnh nạp âm không cần giới tính; nếu người tư vấn hỏi nam hay nữ trước khi gợi ý màu, nhiều khả năng họ đang tính cung phi.
  • Có tên quẻ trong lời khuyên. Những chữ như “cung Khảm”, “Tây tứ mệnh” xuất hiện là dấu hiệu rõ ràng nhất.
  • Lời khuyên đi kèm hướng đặt. Câu như “đặt viên đá ở góc Tây Bắc bàn làm việc” gắn với bát trạch hơn là với mệnh nạp âm.
  • Vợ chồng cùng tuổi nhận hai màu khác nhau. Nếu hai người sinh cùng năm mà được gợi ý màu khác nhau, đó gần như chắc là cung phi.
  • Kết quả khác hẳn bảng màu theo mệnh. Khi lời khuyên không khớp bảng nạp âm bạn biết, hãy hỏi thẳng người bán dùng cách tra nào. Người làm nghề nghiêm túc sẽ trả lời được ngay.

Chọn đá theo cung phi từng bước

Nếu bạn quen dùng bát trạch, hoặc nhà bạn đã được xem hướng theo cung phi và bạn muốn mọi thứ thống nhất, trình tự sau giúp chọn đá mà không lẫn với các lớp khác:

  1. Xác định năm sinh âm lịch, kiểm mốc Tết hoặc Lập xuân nếu sinh tháng Một, tháng Hai dương lịch.
  2. Tra cung phi theo năm sinh và giới tính trong bảng cung phi phổ biến, ghi lại tên quẻ và hành.
  3. Từ hành của cung, lập danh sách màu bản hành và màu tương sinh.
  4. Chọn loại đá theo cách dùng: đá đủ cứng nếu đeo hằng ngày, đá mềm hơn chỉ nên đặt bàn.
  5. Nếu muốn đặt đá theo hướng, dùng la bàn xác định hướng trong phòng, nhưng ưu tiên chỗ an toàn, vững, không vướng lối đi.
  6. Ghi lại bạn đã chọn theo cung phi, để lần sau mua thêm hoặc khi người khác hỏi, bạn không phải tra lại từ đầu.

Với cặp vợ chồng khác cung, mỗi người có thể giữ một viên đeo theo cung của mình; viên đặt ở không gian chung thì chọn màu trung tính hoặc theo người làm việc nhiều nhất ở chỗ đó.

Đặt đá theo hướng của cung: giữ thực tế lên trước

Khi đá được chọn theo cung phi, lời khuyên thường đi kèm hướng đặt: người Đông tứ mệnh đặt ở các hướng Bắc, Nam, Đông, Đông Nam; người Tây tứ mệnh đặt ở Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc. Trên một chiếc bàn làm việc, việc này nghĩa là chọn góc bàn theo la bàn. Nghe thì đơn giản, nhưng góc hợp hướng có khi lại là góc sát mép, sát cửa sổ hay ngay chỗ tay hay với lấy cốc nước.

Vì thế, hướng chỉ nên là tiêu chí phụ. Đá nặng cần chỗ phẳng, vững, cách mép bàn ít nhất một gang tay; quả cầu đá trong suốt không nên đặt nơi nắng chiếu thẳng vì có thể hội tụ ánh sáng; thạch anh tím, thạch anh hồng để lâu dưới nắng có thể nhạt màu. Nếu góc hợp hướng không đáp ứng được những điều này, chọn góc an toàn gần nhất là cách làm hợp lý mà nhiều người theo bát trạch vẫn chấp nhận.

Điện thoại có sẵn la bàn đủ dùng cho việc này; chỉ cần đứng xa loa, nam châm và khung sắt khi đo để kim không bị lệch.

Nên dùng cung phi cho đá đeo hay không

Theo cách hiểu phổ biến, cung phi trả lời câu hỏi “nên ở, nên ngồi quay về hướng nào”, còn mệnh nạp âm gần với câu hỏi “hợp màu gì”. Vì thế nhiều người làm nghề khuyên dùng mệnh nạp âm cho đồ đeo, và chỉ dùng cung phi khi đặt đá theo hướng trong nhà. Đây là một cách phân vai hợp lý, giúp hai lớp không giẫm lên nhau.

Tuy vậy, nếu gia đình bạn vốn theo bát trạch, đã chọn nhà, kê giường theo cung phi, thì dùng luôn cung phi cho đá cũng tạo được sự nhất quán. Không có lớp nào là chuẩn duy nhất, và không có hậu quả gì xảy ra vì bạn dùng lớp này mà không dùng lớp kia.

Điều nên tránh là trộn cả ba lớp cho một viên đá rồi cố tìm màu thoả mãn tất cả. Cách đó gần như luôn bế tắc, hoặc dẫn tới việc mua nhiều viên không cần thiết. Chọn một lớp, hiểu nó, và để viên đá trở thành vật bạn thích nhìn mỗi ngày là đủ.

Câu hỏi thường gặp

Cung phi và cung hoàng đạo có liên quan gì nhau không?

Không. Cung phi thuộc phong thủy bát trạch Á Đông, tính từ năm sinh âm lịch và giới tính, cho ra một trong tám quẻ. Cung hoàng đạo thuộc chiêm tinh phương Tây, tính từ ngày tháng sinh dương lịch, cho ra một trong mười hai cung. Hai chữ “cung” trùng nhau chỉ do cách dịch.

Người chuyển giới hay không muốn xác định giới tính thì tính cung phi thế nào?

Sách bát trạch cổ chỉ có hai cột nam, nữ nên không trả lời được câu hỏi này. Nếu bạn ở trường hợp đó, dùng mệnh nạp âm, vốn không phụ thuộc giới tính, là lựa chọn đơn giản và tôn trọng bản thân nhất khi chọn màu đá.

Vì sao cùng năm 1990 mà nam là Khảm, nữ là Cấn?

Theo cách tính bát trạch, năm sinh được quy về một con số theo hai quy tắc ngược chiều nhau cho nam và nữ, rồi con số đó ứng với một quẻ theo Lạc thư. Vì hai chiều tính khác nhau, nam và nữ cùng năm gần như luôn khác cung, trừ một số năm đặc biệt.

Đá theo cung phi có cần đặt đúng hướng mới có ý nghĩa không?

Không bắt buộc. Một số người kết hợp màu theo cung với hướng tốt theo cung khi đặt đá trên bàn, nhưng đây là lựa chọn thêm. Nếu hướng đó là chỗ nắng chiếu trực tiếp, chỗ dễ rơi hay vướng tay, hãy ưu tiên chỗ an toàn và tiện cho bạn.

Cung Khôn và cung Cấn cùng hành Thổ có khác nhau khi chọn đá không?

Về màu thì không, cả hai đều hướng tới vàng, nâu đất và màu tương sinh đỏ, hồng. Khác nhau chủ yếu ở hướng tốt trong bát trạch và ở ý nghĩa của từng quẻ. Khi chọn đá đeo, bạn có thể coi hai cung này như nhau.

Đã chọn đá theo mệnh nạp âm rồi có nên đổi theo cung phi không?

Không cần. Hai lớp đều là quy ước có căn cứ riêng, không lớp nào làm lớp kia trở thành sai. Nếu bạn muốn có thêm một viên theo cung phi, hãy đặt nó trên bàn hoặc ở góc nhà theo hướng, còn viên đeo theo mệnh nạp âm thì giữ nguyên.

Xem mẫu thật tại Vật Phẩm Phong Thủy

Ảnh thật, chất liệu và kích thước ghi rõ từng mẫu — nhóm đá hộ mệnh. Cần chọn theo tuổi, theo chỗ đặt thì hỏi người bán trước khi đặt.

Xem đá hộ mệnh →

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0926.183.183