Thiềm thừ đá có vài mẫu chính: cóc ngồi ngậm tiền trên đế trơn, cóc ngồi trên đống tiền xu, cóc đội hoặc ôm thỏi vàng nguyên bảo, mẹ cõng thiềm thừ con, cóc có bảy nốt trên lưng và tượng Lưu Hải cưỡi cóc. Mỗi mẫu mang một lớp ý nghĩa theo quan niệm dân gian, chủ yếu xoay quanh hình ảnh tiền bạc tụ lại, con cháu và sự đầy đủ. Không mẫu nào "mạnh" hơn mẫu nào; khác biệt nằm ở thẩm mỹ, kích thước và độ phức tạp của nét chạm.
Khi chọn mẫu, bạn nên nhìn thêm một lớp nữa: chi tiết nào đòi hỏi tay nghề, chi tiết nào dễ sứt, và mẫu nào hợp với chất đá. Bài này đi qua từng mẫu, giải thích ý nghĩa theo cách người ta thường kể, rồi hướng dẫn cách đọc tay nghề trên mắt, miệng, chân, lưng của một con thiềm thừ đá cụ thể.
Vì sao cóc có ba chân và chân thứ ba nằm ở đâu
Cóc thật có bốn chân, còn thiềm thừ trong truyền thuyết chỉ có ba: hai chân trước và một chân sau. Có nhiều cách giải thích được lưu truyền. Một cách gắn với tích Hằng Nga, kể rằng con cóc trên cung trăng là hình phạt hoặc hoá thân; cách khác gắn với tích Lưu Hải thu phục con cóc ba chân tinh nghịch. Văn chương cổ còn dùng chữ "thiềm cung" để chỉ mặt trăng. Đây là những lớp truyện kể đan vào nhau, không có một bản duy nhất, và nên được hiểu như giai thoại.
Trên tượng đá, chân sau duy nhất thường nằm giữa phía đuôi, ngắn và áp sát đế, đôi khi gần như ẩn dưới thân. Hai chân trước chống thẳng hoặc hơi khuỳnh, các ngón tõe rõ. Người mới xem tượng đôi khi tưởng chân sau bị thiếu hay gãy; thật ra đó là đặc điểm nhận diện. Nếu một con tượng có đủ bốn chân, đó là tượng cóc thông thường hoặc ếch, không phải thiềm thừ theo nghĩa vật phẩm.
Thợ chạm thường nhấn vào khóe miệng rộng, mắt lồi, lưng sần và ba chân để con vật nhìn qua là nhận ra. Một số mẫu làm cách điệu, thân tròn mập, mặt hiền; số khác làm gần với cóc thật, da nhiều nốt sần. Bạn chọn theo gu, vì cả hai lối đều có mặt trên thị trường.
Các mẫu thiềm thừ đá hay gặp và ý nghĩa theo quan niệm
Ý nghĩa ở cột giữa là cách hiểu phổ biến trong dân gian, được ghi như quan niệm; cột cuối là gợi ý thực tế khi chọn trên đá:
| Mẫu | Ý nghĩa thường được kể | Lưu ý khi chọn trên đá |
|---|---|---|
| Cóc ngồi ngậm tiền, đế trơn | Hình mẫu gốc, biểu tượng tiền bạc tụ lại | Đơn giản, hợp mọi chất đá, dễ lau |
| Cóc ngồi trên đống tiền xu | Tiền bạc dồi dào, đầy đủ | Đống tiền nhiều kẽ, cần chổi lông khi lau; đế vững |
| Cóc đội hoặc ôm thỏi vàng nguyên bảo | Của cải tích luỹ | Thỏi vàng hay dùng phần đá khác màu hoặc lớp da |
| Mẹ cõng thiềm thừ con | Gia đình sum vầy, con cháu nối tiếp | Con cóc nhỏ trên lưng là chỗ dễ sứt, cần đá dai |
| Lưng bảy nốt xếp hình | Gợi chòm sao Bắc Đẩu theo cách giải thích phổ biến | Kiểm nốt có xếp đúng hình, tròn đều |
| Cóc ngồi trên lá sen, bắp cải | Thanh cao, hoặc đồng âm chữ tài theo cách đọc dân gian | Lá mỏng, cần đá dai như nephrite, Hoàng Long |
| Lưu Hải cưỡi hoặc đùa cóc | Tích truyện cổ về người và cóc ba chân | Có hình người, nét mặt khó tạc; xem kỹ mặt |
Bảng không có cột "mẫu nào tốt nhất", vì câu trả lời phụ thuộc chỗ bày và sở thích. Mẫu càng nhiều chi tiết thì càng cần chất đá dai và càng mất công lau. Nếu bạn muốn một món dễ giữ, mẫu cóc ngồi ngậm tiền trên đế trơn là lựa chọn gọn nhất.
Biến thể nhỏ trong cùng một mẫu: tư thế đầu, xâu tiền và nét mặt
Ngay trong mẫu cóc ngồi ngậm tiền quen thuộc, bạn sẽ thấy nhiều biến thể. Có con ngẩng đầu, miệng hướng lên như đang kêu; có con cúi nhẹ, đồng tiền gần chạm đế; có con xoay đầu sang một bên, tạo dáng sinh động hơn nhưng khó đặt đối xứng trên kệ. Con ngẩng đầu thường được chọn cho kệ thấp để mặt cóc hướng về người nhìn; con cúi hợp đặt cao ngang tầm mắt hơn.
Một biến thể khác là thay đồng tiền đơn bằng xâu tiền: con cóc ngậm một đầu, xâu tiền vắt xuống lưng hoặc buông xuống đế. Trên đá, xâu tiền được tạc nổi bám vào thân để không gãy, còn trên tượng kim loại có khi là chuỗi thật. Xâu tiền gợi lại tích Lưu Hải nhử cóc bằng tiền, nên mẫu này hay được gọi là thiềm thừ Lưu Hải dù không có hình người.
Nét mặt cũng chia hai lối. Lối cách điệu cho cóc mặt tròn, mắt to, miệng như cười, hợp không gian gia đình và làm quà. Lối tả thực cho cóc da sần, mắt sắc, miệng bạnh, hợp người thích vẻ cổ, mạnh. Không lối nào đúng hơn; nhưng nên chọn cùng một lối nếu bạn định bày một cặp hoặc bày cùng các linh vật khác trên một kệ, để cả góc bày nhìn đồng bộ.
Đọc tay nghề trên mặt cóc: mắt, miệng và đồng tiền
Mắt cân và có hồn. Hai mắt lồi phải cân về độ cao và độ to. Thợ giỏi đánh bóng mắt kỹ hơn thân để bắt sáng, đôi khi khoét nhẹ đồng tử. Mắt lệch, một to một nhỏ là lỗi dễ thấy nhất của tượng làm vội.
Khóe miệng rộng, môi rõ. Miệng thiềm thừ kéo dài gần tới mang tai, môi trên môi dưới tách bạch. Đường môi liền mạch, không gợn, là dấu của mũi mài đều tay.
Đồng tiền cân với đầu. Đồng tiền nằm giữa miệng, không lệch sang một bên, lỗ vuông rõ, cỡ cân với bề ngang miệng. Với đồng tiền tạc liền, chỗ tiếp giáp không có rạn.
Nét mũi và trán. Hai lỗ mũi nhỏ và gờ trán là chi tiết phụ nhưng cho biết thợ có làm tới nơi hay không. Tượng tạc kỹ vẫn có mũi rõ dù rất nhỏ; tượng đúc khuôn thường để mũi nhòe.
Đọc tay nghề trên thân, lưng và chân
Phần thân là nơi lộ rõ chất đá và cũng là nơi phân biệt tượng tạc tay với tượng đúc. Khi cầm một con thiềm thừ đá, bạn có thể xem lần lượt:
- Nốt sần trên lưng có độ cao gần đều, tròn, khoảng cách hợp lý; mẫu bảy nốt thì xếp đúng hình, không thừa thiếu.
- Kẽ giữa các nốt và kẽ chân có đáy sạch, không đọng bột mài trắng; bột mài đọng là dấu hiệu chưa hoàn thiện.
- Ba chân: hai chân trước có ngón tõe rõ, chân sau ngắn áp đế, không bị mất hẳn do mài.
- Đường nối thân với đế liền mạch nếu tạc từ một khối; nếu đế là phần ghép, mối ghép phải kín và chắc.
- Vân hoặc màu đá chạy liên tục qua các chi tiết; tượng đúc từ bột đá hay nhựa thường có màu đều tuyệt đối hoặc vân lặp lại.
- Đáy phẳng, đặt lên mặt kính không bập bênh; có lót nỉ hoặc ít nhất được mài nhẵn, không có ba via sắc.
Với mẫu cõng thiềm thừ con, hãy xem kỹ chỗ con cóc nhỏ nối với lưng mẹ. Đây là chỗ mỏng, dễ có rạn ẩn. Với mẫu ngồi đống tiền, xem các đồng xu nhỏ ở mép đế có bị mẻ không, vì chúng hay va khi xếp hàng.
Chọn mẫu hợp với chất đá và chỗ bày
Mẫu nhiều chi tiết mảnh như cõng con, ngồi lá sen, Lưu Hải cưỡi cóc hợp với đá dai: nephrite, Hoàng Long, mã não. Trên thạch anh hay obsidian, các mẫu này dễ sứt, nên bạn sẽ thấy thợ làm gọn lại hoặc dày hơn. Trên Tú ngọc và đá mềm, mẫu cầu kỳ được làm nhiều vì dễ chạm, nhưng lại nhanh mòn và xước nếu đặt nơi hay chạm tay.
Về chỗ bày, mẫu đơn giản hợp góc bàn làm việc, quầy thu ngân, nơi cần lau nhanh và ít kẽ bụi. Mẫu ngồi đống tiền, đội thỏi vàng có bề ngang rộng hơn, hợp kệ phòng khách, bàn trà. Mẫu Lưu Hải cưỡi cóc có hình người nên cao hơn, hợp tủ kính hoặc kệ có chiều sâu. Mẫu cõng con được nhiều người chọn làm quà mừng tân gia cho gia đình trẻ vì ý nghĩa sum vầy.
Một gợi ý nhỏ: nếu đã có sẵn tỳ hưu, Thần Tài hay vật phẩm khác trên cùng kệ, chọn mẫu thiềm thừ đơn giản để không rối mắt. Nếu thiềm thừ là món chính của góc bày, mẫu có đống tiền hay thỏi vàng tạo điểm nhấn tốt hơn.
Với quà tặng, mẫu cũng nên tính tới người nhận. Người lớn tuổi thường thích mẫu cổ, có đống tiền hoặc thỏi vàng, màu đá trầm. Người trẻ, văn phòng hiện đại hợp mẫu gọn, cách điệu, màu sáng hoặc đen bóng. Nếu không rõ gu người nhận, mẫu cóc ngồi ngậm tiền cỡ vừa là lựa chọn an toàn, dễ hợp nhiều không gian và không đòi hỏi công lau chùi.
Chọn một mẫu thiềm thừ đá trong năm phút
Khi đứng trước một kệ nhiều mẫu, bạn có thể đi theo thứ tự sau để không bị cuốn vào kích thước hay độ bóng:
- Loại theo chỗ bày. Đo trước chiều dài và chiều sâu mặt kệ, gạt bỏ các mẫu vượt quá.
- Chọn nhóm mẫu. Đơn giản, có đế tiền, có thỏi vàng, cõng con hay có hình người.
- Xem chất đá phù hợp với mẫu. Mẫu chi tiết trên đá dai; mẫu gọn có thể trên đá giòn.
- Xem mặt cóc trước tiên. Mắt cân, miệng rõ, đồng tiền ngay ngắn. Mặt không ưng thì bỏ qua dù thân đẹp.
- Xem lưng và chân. Nốt đều, kẽ sạch, chân không mất.
- Đặt thử lên mặt phẳng. Tượng đứng vững, không bập bênh.
- Hỏi chất liệu và xử lý. Tên khoáng vật, có nhuộm hay tẩm không, đồng tiền liền hay gắn.
Theo thứ tự này, bạn chọn được một con hợp chỗ bày và có tay nghề tốt, thay vì một con to nhất hay bóng nhất. Khi so nhiều mẫu, bạn có thể xem mẫu có ghi rõ chất liệu, kích thước tại Vật Phẩm Phong Thủy để đối chiếu.
Câu hỏi thường gặp
Thiềm thừ ba chân và cóc bốn chân khác nhau thế nào khi làm vật phẩm?
Thiềm thừ theo nghĩa vật phẩm là cóc ba chân trong truyền thuyết, thường ngậm tiền. Cóc bốn chân là tượng con vật thông thường, có thể dùng trang trí nhưng không mang hình tượng thiềm thừ. Khi mua, đếm chân là cách nhận diện nhanh nhất.
Mẫu thiềm thừ cõng con có hợp làm quà không?
Mẫu này được nhiều người chọn làm quà tân gia, mừng cưới hoặc mừng gia đình có thêm thành viên vì gợi hình ảnh sum vầy theo quan niệm. Nên chọn trên đá dai để con cóc nhỏ trên lưng không dễ sứt khi người nhận lau chùi.
Bảy nốt trên lưng thiềm thừ có ý nghĩa gì?
Theo cách giải thích phổ biến, bảy nốt xếp hình gợi chòm sao Bắc Đẩu, một hình ảnh quen thuộc trong văn hoá Á Đông. Không phải mẫu nào cũng có bảy nốt; nhiều mẫu chỉ có nốt sần ngẫu nhiên như da cóc thật. Hai kiểu đều được bày bình thường.
Tượng Lưu Hải cưỡi cóc có phải là thiềm thừ không?
Đó là tượng kể tích Lưu Hải và con cóc ba chân, trong đó thiềm thừ là một phần. Tượng có hình người nên cao và nhiều chi tiết hơn. Nhiều người bày như một tác phẩm chạm khắc kể chuyện hơn là một vật phẩm đặt dưới thấp.
Mẫu thiềm thừ nào dễ lau nhất?
Mẫu cóc ngồi ngậm tiền trên đế trơn, lưng nốt nông, là dễ lau nhất vì ít kẽ. Mẫu ngồi đống tiền, cõng con hay có lá sen nhiều khe, cần chổi lông nhỏ hoặc cọ mềm để làm sạch bụi định kỳ.
Thiềm thừ đá có cần mua theo cặp không?
Không bắt buộc. Thiềm thừ thường được bày đơn chiếc; một số người bày một cặp ở hai bên kệ cho cân đối. Nếu muốn bày cặp, chọn hai con cùng chất đá, cùng cỡ và đầu quay theo cùng một cách đặt mà nhà bạn theo.