Tranh đồng phong cảnh làng quê là tranh kim loại chạm cảnh quen thuộc của nông thôn Việt: cây đa đầu làng, giếng nước, sân đình, luỹ tre, cánh đồng, con trâu, bến đò. Đây là đề tài ít gây tranh luận nhất trong các loại tranh đồng: không gắn tôn giáo, không cần hiểu ý nghĩa phong thủy, người già người trẻ đều đọc được, nên rất hay được chọn treo phòng khách và làm quà cho người xa quê.
Cảnh quê dễ làm mà khó làm hay. Bức có hồn khiến người xem đứng lại tìm con đường vào làng, nhận ra mái đình sau luỹ tre; bức làm vội chỉ là một dãy hình lặp lại. Bài này giúp bạn đọc các mô típ, chọn cảnh theo vùng miền của người sẽ treo, nhìn bố cục để biết bức nào có chiều sâu, và chọn khổ, màu, chỗ treo cho hợp.
Vì sao cảnh làng quê là đề tài tranh đồng bền nhất
Phần lớn người Việt, kể cả người sinh ra ở thành phố, đều có một hình dung chung về làng quê qua sách vở, ca dao, phim ảnh: cây đa, bến nước, sân đình là bộ ba quen thuộc tới mức thành ngữ. Một bức tranh chạm đúng những hình ảnh ấy gợi được ký ức mà không cần giải thích. Đó là lý do tranh quê bán đều quanh năm, không theo mốt như các đề tài khác.
Với người treo tranh vì phong thủy, cảnh quê không có những câu hỏi khó như hướng mũi thuyền, số con ngựa hay chiều đầu linh vật. Theo cách nghĩ của nhiều gia đình, một bức cảnh yên bình treo phòng khách gợi không khí hiền hoà, gắn bó với nguồn cội. Đó là ý nghĩa người treo gửi gắm, không phải điều bức tranh hứa hẹn.
Về mặt chất liệu, đồng hợp cảnh quê vì màu nâu ấm của đồng hun gần với màu đất, màu gỗ, màu mái ngói cũ. Một bức cảnh làng bằng đồng hun trông như ảnh cũ nhuốm màu thời gian, khác hẳn vẻ rực rỡ của tranh in màu. Gò nổi cho phép tách lớp: luỹ tre gần nổi cao, cánh đồng xa nổi thấp, tạo chiều sâu mà tranh phẳng khó có.
Các mô típ hay gặp và cách đọc
Cây đa, giếng nước, sân đình. Bộ ba kinh điển của làng Bắc Bộ. Cây đa thường đặt ở tiền cảnh hoặc một bên khung, tán rộng; giếng nước với thành giếng tròn và người gánh nước; mái đình cong ở hậu cảnh. Tranh kỹ chạm được rễ phụ buông xuống, bậc giếng, đầu đao mái đình.
Luỹ tre, cánh đồng, con trâu. Cảnh đồng ruộng với luỹ tre làm đường viền làng, người cày bừa, trẻ chăn trâu thổi sáo trên lưng trâu. Mô típ này gợi vẻ thanh bình, hợp phòng khách nhà có người lớn tuổi.
Bến đò, con đò, cây cầu. Dòng sông chảy ngang tranh, con đò nhỏ, bến nước có bậc đá, cầu tre hoặc cầu đá vòng. Nước trên tranh đồng được chạm bằng những đường lượn nhỏ; tranh kỹ có bóng cây, bóng thuyền in xuống mặt nước.
Mái nhà, ngõ làng, cổng làng. Cổng làng xây gạch có mái, ngõ nhỏ lát gạch dẫn vào, những mái nhà ngói xếp lớp. Bức kiểu này nhiều đường kiến trúc, hợp kỹ thuật gò kết hợp chạm nét.
Phố cổ. Một nhánh gần với cảnh quê: dãy nhà ống mái ngói phố cổ Hà Nội, phố đèn lồng Hội An, mái chùa Cầu. Tranh phố cổ hợp làm quà cho người gắn bó với một thành phố cụ thể, nên hỏi rõ cảnh trong tranh là phố nào.
Cảnh quê theo vùng miền
Cảnh quê không chỉ có cây đa sân đình. Nếu tranh dành cho một người cụ thể, chọn cảnh gần quê họ sẽ chạm hơn một bức chung chung. Bảng gợi ý các mô típ quen thuộc theo vùng:
| Vùng | Mô típ hay gặp | Hợp với ai | Ghi chú khi chọn |
|---|---|---|---|
| Đồng bằng Bắc Bộ | Cây đa, giếng nước, mái đình, luỹ tre, cánh đồng lúa | Người gốc Bắc, người lớn tuổi | Đề tài phổ biến nhất, nhiều mẫu để so |
| Miền Trung | Nhà rường, sông nước, phố đèn lồng, cồn cát, thuyền thúng | Người gốc Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi | Mẫu ít hơn, có thể phải đặt riêng |
| Nam Bộ | Kênh rạch, dừa nước, xuồng ba lá, cầu khỉ, chợ trên sông | Người gốc miền Tây | Mặt nước chiếm nhiều diện tích, cần chạm nước kỹ |
| Miền núi phía Bắc | Ruộng bậc thang, nhà sàn, sương núi | Người gắn bó vùng cao, người mê du lịch | Bậc ruộng nhiều đường cong, hợp gò nổi nhiều lớp |
| Tây Nguyên | Nhà rông, rừng, voi, thác | Người gốc Tây Nguyên, quà cho đối tác ở vùng này | Nên chọn bản tôn trọng kiến trúc gốc, không cách điệu quá đà |
Nếu không tìm được mẫu đúng vùng, nhiều xưởng nhận gò theo ảnh chụp thật của một ngôi làng, một bến sông cụ thể. Đây là món quà rất riêng, nhưng cần thời gian và ảnh rõ nét.
Nhìn bố cục để biết bức nào có chiều sâu
Một bức cảnh quê có hồn thường thoả mãn được những điều sau. Bạn có thể dùng như một danh sách kiểm khi đứng trước nhiều mẫu:
- Có ba lớp rõ: tiền cảnh (cây, người, con trâu) nổi cao nhất, trung cảnh (giếng, đình, nhà) nổi vừa, hậu cảnh (núi, mây, cánh đồng xa) nổi thấp.
- Có một đường dẫn mắt: con đường, dòng sông hay bờ ruộng chạy từ góc tranh vào trong, giúp người xem "đi" vào cảnh.
- Đường chân trời không nằm đúng giữa tranh; đặt cao hoặc thấp hơn giữa một chút cho bố cục bớt cứng.
- Người và vật có tỷ lệ hợp lý: người gánh nước không to bằng mái đình, con trâu ở xa nhỏ hơn con trâu ở gần.
- Có khoảng trống: một mảng trời, một mặt nước phẳng để mắt nghỉ. Tranh kín đặc chi tiết nhìn lâu rất mệt.
- Chi tiết không lặp đều: lá tre, mái ngói, sóng nước có biến đổi, không như cùng một con dấu đóng lặp lại.
- Mặt trời, trăng hoặc mây không chiếm vị trí quá nổi bật, trừ khi đó là chủ ý của bức tranh.
Bức tranh thoả được năm, sáu điều trong danh sách này thường là bức người thợ đã nghĩ về bố cục, không chỉ chép hình. Bạn có thể đặt hai bức cùng giá cạnh nhau và đếm, khác biệt sẽ hiện ra rất nhanh.
Nhận ra bức chạm kỹ và bức làm hàng loạt ở tranh quê
Lá tre và tán đa. Ở bức chạm kỹ, lá tre có lá gần to, lá xa nhỏ, có khóm dày khóm thưa, tán đa có độ phồng như một khối. Bức làm hàng loạt thường lặp một kiểu lá đều nhau như hoa văn dán.
Mái ngói, mái đình. Hàng ngói nhỏ dần theo phối cảnh, đầu đao mái đình cong rõ, không gãy góc. Mái ngói chỉ là các vạch song song bằng nhau là dấu hiệu khuôn đơn giản.
Mặt nước. Mặt nước của bức kỹ có chỗ gợn, chỗ phẳng, có bóng cây hoặc bóng con đò in xuống. Mặt nước làm vội là những đường lượn đều phủ kín, không có chỗ nghỉ cho mắt.
Người và con vật. Người gánh nước, trẻ chăn trâu dù nhỏ vẫn có dáng đi, dáng ngồi đọc được; con trâu có sừng, có khối vai. Bức làm vội chỉ có những hình người như que, không rõ đang làm gì.
Hai bức cùng mẫu. Nếu cửa hàng có hai bức cùng cảnh, đặt cạnh nhau: giống hệt tới từng lá tre là dập khuôn; khác nhau ở vài chi tiết là có bàn tay thợ chạm lại. Cả hai đều có chỗ dùng, quan trọng là giá và lời giới thiệu khớp với thực tế.
Chọn tranh quê làm quà cho người xa quê
Tranh quê là món quà được người Việt ở nước ngoài, người đi làm xa, sinh viên du học đón nhận nhiều. Điều quan trọng nhất là cảnh trong tranh gần với ký ức người nhận. Một người lớn lên ở miền Tây sẽ thấy bức xuồng ba lá trên kênh gần gũi hơn bức cây đa sân đình, dù bức sau phổ biến hơn. Nếu có thể, hỏi khéo người nhà về quê gốc của người nhận trước khi chọn.
Quà gửi đi xa cần nhẹ và bền. Tranh gò khổ nhỏ hoặc vừa, khung gỗ mỏng, có thể tháo khung để gói phẳng, sẽ dễ xếp vào hành lý hơn tranh khung dày. Gói mặt tranh bằng giấy mềm, chèn xốp quanh phần nổi, đặt tranh đứng giữa quần áo trong vali, không để vật cứng tì lên mặt tranh.
Khí hậu nơi người nhận sống cũng nên tính đến. Vùng khô lạnh có lò sưởi ít làm đồng xỉn nhưng có thể làm khung gỗ co ngót, nứt nhẹ; vùng ẩm gần biển làm đồng chóng xỉn hơn. Kèm theo một tờ hướng dẫn lau ngắn và ghi chú cảnh trong tranh là vùng nào, để người nhận kể lại được cho con cháu.
Màu đồng, khổ tranh và chỗ treo cho tranh quê
Đồng hun giả cổ là lựa chọn hợp nhất cho cảnh quê: phần trũng tối như bóng chiều, phần nổi sáng như nắng chiếu lên mái đình, luỹ tre. Đồng đỏ để tự nhiên cho cảm giác ấm, hợp phòng có nhiều đồ gỗ. Mạ vàng toàn bộ ít hợp cảnh quê vì làm mất vẻ mộc; nếu muốn điểm nhấn, chỉ mạ vàng mặt trời hoặc vài chi tiết nhỏ.
Cảnh quê thường làm khổ ngang dài, bố cục trải rộng như một dải đất. Khổ này hợp tường sau sofa, tường phòng ăn, hành lang dài. Có xưởng làm bộ ba tấm ghép thành một cảnh liền, treo cách nhau một khoảng nhỏ; bộ này hợp tường rộng, nhưng khi treo phải căn đường chân trời ba tấm thẳng hàng tuyệt đối, lệch vài milimét là mắt thấy ngay.
Phòng ông bà, phòng ăn gia đình, phòng khách nhà có khách quê lên chơi là những chỗ tranh quê được nhìn nhiều nhất. Ở văn phòng, tranh quê hợp phòng tiếp khách hơn phòng giám đốc, nơi người ta thường muốn đề tài mạnh hơn. Treo tranh ở tầm mắt người ngồi trên sofa nhìn lên, ánh đèn xiên từ trên xuống để luỹ tre, mái ngói bắt sáng. Nếu muốn so nhiều cảnh khác nhau, bạn có thể xem mẫu có ghi rõ chất liệu, kích thước tại Vật Phẩm Phong Thủy và đối chiếu với chiều dài bức tường đã đo.
Câu hỏi thường gặp
Tranh đồng cây đa giếng nước sân đình có ý nghĩa gì?
Đây là bộ ba hình ảnh quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, gợi nguồn cội, sự gắn bó với quê hương và không khí yên bình. Ý nghĩa nằm ở ký ức và tình cảm người treo gửi gắm, không phải điều bức tranh mang lại.
Tranh đồng phong cảnh treo phòng khách có cần xem hướng không?
Tranh phong cảnh không có quy ước về hướng như tranh thuyền buồm hay tranh ngựa. Bạn chỉ cần chọn bức tường đủ rộng, ánh sáng xiên đẹp, ở tầm mắt người ngồi. Nếu tranh có dòng sông, nhiều người thích dòng nước chảy vào phía trong phòng, nhưng đó là sở thích.
Có đặt được tranh đồng theo ảnh quê nhà mình không?
Nhiều xưởng nhận gò hoặc ăn mòn theo ảnh chụp. Bạn chuẩn bị ảnh rõ nét, đủ sáng, chụp ở góc đẹp nhất, và chấp nhận xưởng sẽ lược bớt chi tiết như dây điện, biển hiệu để bức tranh gọn. Nên duyệt bản phác thảo trước khi xưởng làm.
Tranh quê nên chọn khổ ngang hay khổ đứng?
Phần lớn cảnh quê hợp khổ ngang vì cảnh trải rộng theo chiều ngang. Khổ đứng hợp cảnh có cây đa cao, cổng làng, ruộng bậc thang nhìn từ dưới lên. Chọn theo bức tường: tường dài thấp dùng khổ ngang, tường hẹp cao dùng khổ đứng.
Mang tranh đồng ra nước ngoài làm quà có khó không?
Tranh đồng mỹ nghệ khổ vừa thường mang theo hành lý được nếu gói kỹ. Nên chọn khung mỏng, giữ hoá đơn ghi rõ hàng mỹ nghệ mới, hỏi trước quy định hành lý của hãng bay. Tranh khổ lớn nên gửi qua đơn vị vận chuyển có đóng thùng.
Tranh phong cảnh đồng hun hay đồng mạ vàng đẹp hơn?
Với cảnh quê, đồng hun giả cổ thường hợp hơn vì màu nâu ấm gần với màu đất, mái ngói, gợi vẻ mộc mạc. Mạ vàng toàn bộ dễ làm cảnh mất tự nhiên; nếu thích ánh vàng, chọn bức chỉ mạ một vài chi tiết làm điểm nhấn.