Ba loại đá hay dùng tạc sư tử đặt cổng ở Việt Nam là đá xanh (đá vôi màu xám xanh), đá trắng (đá hoa, tức cẩm thạch) và đá hoa cương (granite). Đá xanh dễ tạc chi tiết, lên rêu đẹp theo thời gian nhưng mềm và thấm nước; đá trắng sáng, sang nhưng dễ ố và mòn bởi mưa; đá hoa cương cứng nhất, bền nhất ngoài trời nhưng khó tạc, nét thường đơn giản hơn. Không có loại "tốt nhất", chỉ có loại hợp với chỗ đặt và ý thích của bạn.
Bài này đi vào bản chất khoáng vật của từng loại đá, cách chúng phản ứng với mưa, nắng, rêu, cách nhận biết khi xem tượng tại xưởng và những câu nên hỏi người bán. Các làng nghề và vùng đá được nhắc ở mức phổ biến, không quảng cáo cơ sở nào.
Đá xanh: đá vôi hạt mịn, dễ tạc, càng để càng cổ
Đá xanh mà thợ tạc tượng gọi thực chất là đá vôi hạt mịn, thành phần chính là khoáng vật canxit (cacbonat canxi), có màu xám xanh đến xám đen do lẫn tạp chất. Vùng đá xanh được biết nhiều là các núi đá vôi ở Thanh Hóa và Ninh Bình; làng đá Ninh Vân ở Ninh Bình là một trong những làng nghề tạc đá lâu đời ở miền Bắc. Đá xanh được dùng làm tượng, lan can, cột, bia ở nhiều đình chùa miền Bắc.
Ưu điểm lớn nhất của đá xanh là dễ tạc mà vẫn giữ được nét. Canxit có độ cứng khoảng 3 trên thang Mohs, mềm hơn nhiều so với thạch anh, nên thợ có thể đục những lọn bờm xoăn, những viên ngọc lăn trong miệng, những quả cầu rỗng nhiều lớp. Màu đá trầm, khi để ngoài trời vài năm thường lên lớp rêu mỏng, ngả sẫm, khiến tượng mới trông như đã có tuổi, rất hợp nhà vườn, nhà thờ họ.
Nhược điểm đi kèm với chính thành phần ấy. Đá vôi phản ứng với axit, mà nước mưa ở đô thị và vùng công nghiệp thường hơi chua, nên bề mặt sẽ mòn dần, nét chạm mảnh mờ đi sau nhiều năm. Đá vôi cũng có lỗ rỗng nhỏ, hút ẩm, nên dễ lên rêu, mốc ở nơi râm mát. Ai thích tượng lúc nào cũng xám sạch như mới thì phải lau chùi và xử lý chống thấm thường xuyên.
Trong cùng gọi là đá xanh, chất lượng khác nhau tuỳ vỉa đá. Đá tốt hạt mịn, màu đều, gõ kêu chắc; đá kém có vân trắng chạy ngang, hốc nhỏ hoặc vết nứt chân chim, dễ tách theo vân sau vài mùa nắng mưa.
Đá trắng: cẩm thạch sáng, sang, nhưng cần chăm
Đá trắng dùng tạc tượng phần lớn là đá hoa, tức đá cẩm thạch, là đá vôi đã bị biến chất dưới nhiệt và áp suất nên các tinh thể canxit kết lại, hạt sáng và thường óng hơn. Ở Việt Nam, đá trắng được khai thác nhiều ở vùng Lục Yên thuộc Lào Cai (trước là Yên Bái) và ở Nghệ An; vùng Non Nước ở Đà Nẵng nổi tiếng với nghề chạm đá cẩm thạch.
Vì cùng thành phần canxit, đá trắng có độ cứng tương đương đá xanh, khoảng 3 đến 4 trên thang Mohs, dễ tạc chi tiết và đánh bóng được. Tượng sư tử đá trắng mới trông rất sáng, sạch, hợp kiến trúc hiện đại, biệt thự, sảnh khách sạn. Một số mẫu được phun cát bề mặt để mờ, đỡ bóng gắt dưới nắng.
Điểm yếu khi đặt ngoài trời là đá trắng dễ lộ vết bẩn. Nước mưa chảy từ mái kéo theo bụi, rỉ sắt từ hàng rào, nhựa lá cây đều để lại vệt ố vàng, nâu, xám trên nền trắng. Đá cũng phản ứng với axit như đá xanh, nên lâu ngày bề mặt nhám dần, mất độ bóng. Nhiều chủ nhà chọn đá trắng cho sảnh có mái che, còn ngoài cổng hứng mưa thì chọn đá khác.
Cần phân biệt đá trắng tự nhiên với tượng bột đá trắng đúc khuôn: đá tự nhiên có vân, tinh thể lấp lánh nhẹ khi nghiêng dưới nắng và mặt dưới đế có vết cưa; bột đá thì trắng đều như phấn, nhẹ hơn và có đường ghép khuôn.
So sánh ba loại đá khi đặt ngoài trời
Bảng tổng hợp ở mức phổ thông; đá cụ thể từng mỏ có thể khác, nên hỏi xưởng về nguồn đá của chính con tượng bạn định mua.
| Tiêu chí | Đá xanh (đá vôi) | Đá trắng (cẩm thạch) | Đá hoa cương (granite) |
|---|---|---|---|
| Khoáng vật chính | Canxit | Canxit kết tinh lại | Thạch anh, fenspat, mica |
| Độ cứng Mohs (xấp xỉ) | Khoảng 3 | Khoảng 3–4 | Khoảng 6–7 |
| Phản ứng axit | Có, mòn dần | Có, mòn và nhám dần | Gần như không |
| Độ chi tiết khi tạc | Rất cao | Rất cao | Trung bình, nét khoẻ |
| Rêu, mốc | Dễ lên, tạo vẻ cổ | Dễ ố vệt | Ít bám |
| Hợp chỗ nào | Nhà vườn, nhà thờ họ, đình | Sảnh có mái, biệt thự | Cổng hứng mưa nắng, cơ quan |
Thử nhanh tại xưởng: nhỏ một giọt giấm lên chỗ khuất dưới đế, đá vôi và cẩm thạch thường sủi bọt li ti sau một lúc, đá hoa cương thì không. Hãy xin phép trước và lau sạch ngay sau khi thử.
Đá hoa cương: bền nhất ngoài trời, nét tạc khoẻ
Đá hoa cương, hay granite, là đá magma kết tinh từ dưới sâu, gồm chủ yếu thạch anh, fenspat và mica. Thạch anh có độ cứng 7, fenspat khoảng 6, nên granite cứng gấp đôi đá vôi trên thang Mohs và gần như không bị nước mưa chua làm mòn. Đá có nhiều màu: trắng muối tiêu, xám, đen, hồng, vàng, đỏ, với các đốm hạt nhìn rõ bằng mắt thường. Ở miền Trung, vùng Bình Định cũ (nay thuộc Gia Lai) có nghề chế tác đá granite lâu đời.
Chính độ cứng làm granite khó tạc. Thợ phải dùng máy cắt, máy mài lưỡi kim cương nhiều hơn, chi tiết mảnh như lọn bờm nhỏ, viên ngọc lăn trong miệng khó làm và tốn công hơn nhiều so với đá xanh. Vì thế sư tử granite thường có dáng khối, bờm cách điệu thành từng mảng lớn, nét khoẻ, hợp kiến trúc hiện đại và cổng cơ quan.
Ngoài trời, granite gần như giữ nguyên màu sau nhiều năm, ít rêu bám vì độ rỗng thấp. Điều cần lưu ý là một số loại granite màu sáng có thể bị ố khi có kim loại sắt rỉ chảy qua, và bề mặt đánh bóng gương có thể trơn, loá dưới nắng. Bề mặt khò lửa hoặc mài mờ thường hợp tượng ngoài trời hơn.
Granite nặng tương đương các loại đá khác, nhưng vì tượng granite thường làm khối đặc, ít đục rỗng, nên cùng chiều cao có thể nặng hơn tượng đá xanh chạm thủng nhiều. Hãy hỏi cân nặng để tính đường vận chuyển và bệ đỡ.
Tạc tay, tạc máy phần thô: nhìn tượng để biết
Ngày nay rất ít tượng đá được tạc hoàn toàn bằng đục tay từ khối thô. Phổ biến hơn là thợ dùng máy cắt, máy mài cầm tay hoặc máy khắc điều khiển số để phá thô theo mẫu, rồi mới dùng đục, giũa, đá mài để hoàn thiện chi tiết. Cách làm này không phải gian dối, nó giúp giảm công và giá, miễn là người bán nói rõ. Điều đáng ngại là tượng bột đá đúc khuôn được gọi là "đá tạc nguyên khối".
Tượng phá thô bằng máy khắc thường có hai con giống nhau gần như tuyệt đối, bề mặt ở chỗ phẳng có vệt mài song song đều đặn. Tượng tạc tay nhiều hơn thì hai con có sai khác nhỏ ở lọn bờm, nếp da, nét mặt, và vết đục có nhịp tay không đều. Không có loại nào hơn hẳn: tượng máy đều, cân; tượng tay có hồn riêng, nhưng cũng có thể lệch nếu thợ non tay.
Đá nguyên khối có thể nhận ra qua vân đá chạy liên tục từ thân xuống đế, không có đường cắt ngang. Tượng lớn đôi khi được ghép đầu, đuôi hoặc đế từ khối khác, gắn bằng chốt và keo; mối ghép tốt khó thấy nhưng vân đá sẽ đứt đoạn ở chỗ nối. Bạn nên hỏi thẳng tượng có ghép không và ghép ở đâu, vì mối ghép là chỗ cần để ý khi vận chuyển và sau nhiều mùa nắng mưa.
Một dấu hiệu nữa là vết vá. Đá tự nhiên có hốc, vết rạn, thợ thường trám bằng keo trộn bột đá cùng màu. Vết vá nhỏ ở chỗ khuất là bình thường; vết vá lớn ở mặt, chân, quả cầu thì cần được nói trước và tính vào giá.
Chọn theo chỗ đặt: vài tình huống cụ thể
Cổng nhà vườn, nhiều cây, muốn vẻ cổ. Đá xanh là lựa chọn quen thuộc. Rêu bám tạo vẻ trầm mặc, hợp với sân gạch, tường rêu. Chấp nhận việc nét chạm mờ dần sau nhiều năm.
Cổng mặt đường lớn, bụi và khói xe. Đá hoa cương bền và dễ lau hơn; đá trắng sẽ nhanh xám, ố. Nếu vẫn thích đá xanh, chọn mẫu ít chi tiết mảnh để bụi không đọng.
Sảnh có mái che, biệt thự hiện đại. Đá trắng phát huy vẻ sáng, sang. Không hứng mưa trực tiếp nên đỡ ố và mòn.
Gần biển, hơi muối. Muối kết tinh trong lỗ rỗng của đá vôi có thể làm bề mặt bong vảy dần. Granite chịu tốt hơn; nếu dùng đá xanh, nên xử lý chống thấm và rửa nước ngọt định kỳ.
Nơi râm, ẩm quanh năm. Đá vôi sẽ lên rêu nhanh và có thể đen loang. Nếu không thích, chọn granite hoặc lên kế hoạch vệ sinh định kỳ.
Câu nên hỏi xưởng trước khi đặt tượng đá
Tượng đá đặt cổng là món lớn, khó đổi trả. Hỏi rõ những điều sau giúp bạn biết mình đang mua gì:
- Đá loại gì, khai thác ở vùng nào; có phải đá nguyên khối hay ghép từ nhiều khối.
- Tượng tạc tay hoàn toàn, tạc máy phần thô rồi thợ hoàn thiện, hay đúc từ bột đá rồi phủ màu.
- Có vết nứt, vết vá, chỗ trám keo nào không; xin ảnh chụp cận các mặt và đáy.
- Bề mặt hoàn thiện kiểu gì: để thô, mài mờ, đánh bóng, phun cát; có xử lý chống thấm chưa.
- Chiều cao, chiều ngang, chiều sâu đế và cân nặng ước tính của từng con.
- Có làm bệ đồng bộ không, bệ cùng loại đá hay khác.
- Chi phí và cách vận chuyển, ai chịu trách nhiệm nếu vỡ mẻ trên đường.
Khi đã chọn được loại đá hợp chỗ đặt, bạn có thể xem mẫu có ghi rõ chất liệu, kích thước tại Vật Phẩm Phong Thủy và đối chiếu với các câu trả lời trên.
Câu hỏi thường gặp
Sư tử đá xanh có bền ngoài trời không?
Đá xanh là đá vôi nên bền ở mức hàng chục năm nếu đá tốt, nhưng bề mặt sẽ mòn dần dưới mưa, nét chạm mảnh mờ đi và dễ lên rêu. Nhiều người thích chính vẻ cổ đó; ai muốn tượng sạch lâu thì cần chống thấm và vệ sinh định kỳ.
Đá trắng có phải đá cẩm thạch không?
Phần lớn đá trắng dùng tạc tượng là đá hoa, tức cẩm thạch, một dạng đá vôi biến chất có tinh thể canxit kết lại. Cần phân biệt với bột đá trắng đúc khuôn, loại nhẹ hơn, trắng đều như phấn và có đường ghép khuôn.
Làm sao biết tượng là đá hoa cương hay đá vôi?
Đá hoa cương có các đốm hạt khoáng nhìn rõ, cứng, không sủi bọt khi nhỏ giấm. Đá vôi và cẩm thạch hạt mịn hơn, có thể sủi bọt li ti với giấm. Nên thử ở chỗ khuất dưới đế, xin phép người bán và lau sạch ngay.
Có nên đánh bóng sư tử đá đặt ngoài trời?
Bề mặt bóng gương đẹp khi mới nhưng với đá vôi và cẩm thạch sẽ nhanh mất bóng dưới mưa, còn với granite có thể loá và trơn. Tượng ngoài trời thường hợp bề mặt mài mờ, phun cát hoặc để thô hơn.
Rêu trên sư tử đá xanh có làm hỏng đá không?
Lớp rêu mỏng chủ yếu ảnh hưởng thẩm mỹ, nhiều người còn thích vì tạo vẻ cổ. Rễ rêu, địa y lâu năm có thể làm bề mặt đá vôi bở dần ở mức rất chậm. Nếu muốn sạch, cọ bằng bàn chải mềm và nước, tránh hoá chất có axit.
Tượng đá ở gần biển nên chọn loại nào?
Hơi muối có thể kết tinh trong lỗ rỗng của đá vôi, làm bề mặt bong vảy dần. Đá hoa cương chịu tốt hơn. Nếu vẫn dùng đá xanh hoặc đá trắng, nên xử lý chống thấm và rửa nước ngọt định kỳ.